20:59 ICT Thứ tư, 23/10/2019

Hoạt động


Tin tức



Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Bảo vệ pháp luật
Đời sống & Pháp Luật
VKSND Tối cao

Tỉ giá ( Vietcombank )

Tháng Mười 23, 2019, 8:40 pm
Code Buy Transfer Sell
AUD 15,687.48 15,782.17 16,050.55
CAD 17,411.48 17,569.61 17,868.38
CHF 23,094.64 23,257.44 23,652.94
DKK - 3,403.36 3,510.04
EUR 25,598.39 25,675.42 26,446.53
GBP 29,522.14 29,730.25 29,994.89
HKD 2,916.63 2,937.19 2,981.17
INR - 326.92 339.75
JPY 206.93 209.02 215.08
KRW 18.32 19.28 20.82
KWD - 76,373.15 79,369.83
MYR - 5,502.78 5,574.02
NOK - 2,497.70 2,575.99
RUB - 363.25 404.77
SAR - 6,172.00 6,414.17
SEK - 2,374.66 2,434.44
SGD 16,818.11 16,936.67 17,121.64
THB 750.25 750.25 781.55
USD 23,145.00 23,145.00 23,265.00

Trang chủ » Hoạt động » Nghiên cứu - trao đổi

CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo hướng bảo đảm quyền của bi can, bị cáo

Thứ hai - 08/04/2013 08:40
Toàn cảnh phiên tòa - ảnh minh họa

Toàn cảnh phiên tòa - ảnh minh họa

1. Đánh giá chung về Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 BLTTHS năm 2003 được Quốc Hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004. Bộ luật này gồm 8 phần, 37 chương với 346 Điều, được xây dựng trên cơ sở kế thừa của BLTTHS đầu tiên năm 1988 và có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình mới.
Sau 8 năm áp dụng BLTTHS năm 2003 trong thực tiễn, hoạt động tư pháp hình sự đã có những chuyển biến tích cực; tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp đã được xác định rõ ràng hơn và từng bước được kiện toàn; chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được cải thiện đáng kể; công tác xét xử được xem xét thận trọng, tình trạng tồn đọng án cơ bản được khắc phục; tỷ lệ điều tra phá án đạt tỷ lệ cao, năm sau đều đạt cao hơn năm trước; chủ trương Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa được triển khai thực hiện, tạo không khí dân chủ trong các phiên tòa, vai trò của luật sư được nhìn nhận tích cực hơn…

     Bên cạnh những mặt tích cực, BLTTHS vẫn còn bộc lộ những bất cập, hạn chế như:

     (i) Những quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế làm việc của các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn bất hợp lý; chưa có sự phân định chính xác, hợp lý giữa các chức năng cơ bản của tố tụng, dẫn đến việc quy định vai trò, thẩm quyền cụ thể của từng chủ thể tố tụng và trình tự tiến hành các thủ tục tố tụng chưa phù hợp, có những quyền thuộc chức năng buộc tội lại không được giao cho Viện kiểm sát là cơ quan buộc tội thực hiện, ngược lại Tòa án là cơ quan xét xử lại được giao chức năng buộc tội trong quá trình xét xử.

     (ii) Còn thiếu những cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là cơ chế bảo đảm quyền của bị can, bị cáo;

     (iii) Ý kiến tranh tụng của người bào chữa vẫn chưa thực sự được coi trọng; nhiều bản án, quyết định của Tòa án chưa thực sự dựa trên kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên tòa, dẫn đến tình trạng số án bị hủy, sửa còn chiếm số lượng đáng kể;

     (iv) Phương pháp điều tra thẩm vấn vẫn là phương pháp chủ yếu trong hầu hết các giai đoạn tố tụng, thể hiện sự bất bình đẳng giữa người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, trong đó sự bất lợi luôn thuộc về người tham gia tố tụng, đặc biệt là đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo…

     Những vướng mắc, bất cập nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, ảnh hưởng đến yêu cầu xây dựng một nền tư pháp dân chủ, công bằng, nghiêm minh, bảo vệ công lý, ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo và đặc biệt đã không tạo ra cơ chế pháp lý hữu hiệu để thúc đẩy các cơ quan tiến hành tố tụng tự hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.

    Mục tiêu xuyên suốt của BLTTHS hiện hành là tìm ra sự thật, tìm đến chân lý khách quan của sự việc. Mục tiêu này chi phối mọi trình tự, thủ tục cũng như thẩm quyền của các chủ thể trong TTHS. Điều 1 Bộ luật TTTHS quy định: “Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”. Ngoài ra, Bộ luật TTHS năm 2003 còn có hàng loạt các quy định khác để bảo đảm mục tiêu này. Chính vì vậy, TTHS Việt nam không tồn tại chế định tùy nghi truy tố hoặc mặc cả thú tội như mô hình tố tụng tranh tụng, việc phát hiện và xử lý tội phạm mang tính bắt buộc.

     Trong quá trình thu thập chứng cứ, việc điều tra thẩm vấn là phương pháp được sử dụng ở tất cả các giai đoạn. Trong giai đoạn điều tra, Điều tra viên thực hiện mọi biện pháp điều tra do pháp luật quy định để thu thập chứng cứ nhằm chứng minh tội phạm và hành vi phạm tội; trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát kiểm tra, thẩm định lại hồ sơ vụ án và quyết định việc truy tố hoặc không truy tố người phạm tội; trong giai đoạn xét xử, phương pháp điều tra chủ yếu vẫn là phương pháp thẩm vấn dưới hình thức xét hỏi trực tiếp mà chủ thể buộc tội tích cực nhất là Hội đồng xét xử. Vấn đề tranh tụng mặc dù đã được quan tâm, thể chế hóa trong BLTTHS (Điều 217, 218 BLTTHS 2003) nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập khi áp dụng trong thực tiễn. Mô hình tố tụng thẩm vấn của tố tụng hình sự Việt Nam như đã nêu ở trên là một trong những hạn chế của tố tụng hình sự hiện hảnh, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo.

     Viện kiểm sát có vai trò quan trọng, xuyên suốt trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự; có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc điều tra, xét xử và thi hành án hình sự. Viện kiểm sát thực hiện quyền năng của mình thông qua việc phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra, ra yêu cầu, quyết định, kiến nghị, kháng nghị… Về lý thuyết, Viện kiểm sát là một chủ thể quan trọng trong tố tụng hình sự Việt nam. Thông qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm cho pháp luật hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và quyền của bị can, bị cáo nói riêng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, Bộ luật TTHS chưa quy định chế tài cụ thể đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định, kiến  nghị của Viện kiểm sát. Do những bất cập này dẫn đến hậu quả việc thực hiện BLTTHS chưa nghiêm, chưa thực sự bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng.

     BLTTHS Việt Nam hiện hành trao trọn vẹn thẩm quyền chứng minh trong vụ án hình sự cho các chủ thể tiến hành tố tụng, các cơ quan THTT được độc quyền trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Những người tham gia tố tụng không có quyền thu thập chứng cứ của vụ án, chỉ có quyền cung cấp tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu (Điều 48 – 54, 58, 59, 64, 65 BLTTHS). Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan THTT luôn ở thế chủ động, từ việc thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ đến việc đưa ra các quyết định tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án. Bên cạnh đó, Tòa án là cơ quan tích cực, chủ động trong việc xác định sự thật của vụ án, Tòa án hoàn toàn không phải là trọng tài giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội mà có vai trò quan trọng, tích cực trong việc chứng minh tội phạm (Điều 10); Tòa án được tiếp xúc với hồ sơ sớm, được nghiên cứu hồ sơ trước khi xét xử, nếu thấy chứng cứ yếu hoặc vi phạm tố tụng thì có quyền trả hồ sơ; diễn biến phiên tòa không phải là sự tranh tụng giữa bên buộc tội và gỡ tội mà thực chất là việc tiếp tục điều tra, thẩm vấn để đi tìm sự thật vụ án; Tòa án có quyền khởi tố vụ án nếu quá trình xét hỏi thấy có dấu hiệu của tội phạm hình sự... Việc quy định Tòa án tham gia quá sâu vào chức năng buộc tội (lẽ ra thuộc về cơ quan công tố), thậm chí Tòa án còn là chủ thể tích cực cùng với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc buộc tội đối với bị cáo, vô hình chung đưa bị cáo vào thế bất lợi, thể hiện sự thiếu khách quan trong tố tụng hình sự, mà phần bất lợi luôn thuộc về phía bị can, bị cáo.

     Vị trí, vai trò của người bào chữa mặc dù đã được quy định, nhưng còn hạn chế. Pháp luật quy định các quyền của người bào chữa nhưng lại thiếu những quy định bắt buộc để bảo đảm việc thực hiện quyền của người bào chữa, đặc biệt chưa có những chế tài áp dụng với cơ quan và người THTT khi vi phạm các quyền của người bào chữa. Người bào chữa được pháp luật quy định có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, nhưng không quy định trách nhiệm của Điều tra viên trong việc thông báo cho người bào chữa biết thời gian, địa điểm lấy lời khai; người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can nhưng phải đề nghị CQĐT báo trước về thời gian và địa điểm có mặt, đồng thời pháp luật không quy định cụ thể thời hạn các cơ quan THTT phải báo trước cho người bào chữa về việc hỏi cung bị can; người bào chữa không có quyền thu thập chứng cứ để thực hiện chức năng tố tụng của mình. Luật cũng không cho phép người bào chữa được đọc, ghi chép và sao chụp toàn bộ hồ sơ vụ án mà chỉ được đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu có liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra. Có thể thấy sự thiếu công bằng, bất cân xứng về thông tin đối với người bào chữa - đại diện của bị can, bị cáo trong việc bảo đảm thực hiện quyền năng tố tụng của mình.

     Vai trò của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong BLTTHS hiện hành cũng còn thiếu sự bình đẳng; đối lập với vai trò tích cực, chủ động của cơ quan THTT là vai trò thụ động của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong việc thực hiện quyền của mình. Nếu như trong mô hình tố tụng tranh tụng, người bị tình nghi chỉ bị khởi tố bị can, bắt tạm giam sau khi các cơ quan tiến hành tố tụng đã tìm đủ bằng chứng chứng minh họ chắc chắn có tội và việc bắt tạm giam họ phải do Tòa án quyết định bằng một phiên tòa trên cơ sở đề nghị của Công tố viên (Nga, Hàn quốc…); thì trong TTHS Việt Nam nói riêng và trong mô hình tố tụng thẩm vấn nói chung, các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền khởi tố bị can, bắt tạm giam bị can ngay từ khi chứng cứ còn chưa rõ ràng, sau khi khởi tố, bắt tạm giam mới chính thức tiến hành điều tra củng cố chứng cứ. Mô hình này đẩy bị can, bị cáo vào tình thế bất lợi, tạo điều kiện thuận lợi để người tiến hành tố tụng mớm cung, ép cung, thậm chí dùng nhục hình để thu thập chứng cứ.

     Thủ tục rút gọn được quy định tại Chương 34 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cũng còn nhiều vấn đề bất cập, ảnh hưởng đến quyền của bị can, bị cáo. Thủ tục này mới chỉ rút ngắn về thời gian, không giản lược về thủ tục tố tụng dẫn đến Cơ quan điều tra ngại áp dụng thủ tục này trong thực tiễn. Trường hợp áp dụng thủ tục này thì Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát tìm mọi lý do để có thể tạm giam bị can (mặc dù theo quy định tại Điều 88 BLTTHS không đủ điều kiện tạm giam), bởi lẽ chỉ tạm giam bị can mới bảo đảm được thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn. Khi đã tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố thì hầu hết các bị can, bị cáo bị áp dụng thủ tục này đều phải nhận mức hình phạt tù có thời hạn, mặc dù nếu xét xử theo thủ tục thông thường họ đương nhiên được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

     Xuất phát từ những bất cập, hạn chế như đã nêu ở trên đòi hỏi phải có sự cải cách, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, tăng cường trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, bảo đảm thực hiện dân chủ hơn nữa trong hoạt động tố tụng hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng theo đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa VIII), Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và đặc biệt là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

     2. Những yêu cầu, định hướng trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS năm 2003 để bảo đảm hơn nữa quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

     Thứ nhất: Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS năm 2003 phải dựa trên những quan điểm chỉ đạo của Đảng. Cải cách tư pháp hình sự là một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp nhằm mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ra rất quan tâm đến công tác cải cách tư pháp trong lĩnh vực hình sự. Thời gian gần đây, Bộ chính trị đã ban hành rất nhiều Chỉ thị, Nghị quyết chỉ đạo công tác cải cách tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng; Đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005 Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã nêu rõ: “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại Tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp...”. Ngày 02/6/2005, Bộ chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”, “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp... tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra...”

     Thứ hai: Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS phải trên cơ sở tổng kết thực tiễn nhằm khắc phục cơ bản các vướng mắc, bất cập của Bộ luật TTHS hiện hành; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động tư pháp hình sự; ngăn ngừa và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm; bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự; tạo ra cơ chế để nâng cao trình độ, năng lực của cơ quan THTT và người tiến hành tố tụng, bảo đảm sự độc lập của các cơ quan này trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

     Thứ ba: Việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS phải kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục, sửa đổi những hạn chế, bất cập; đồng thời tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của Bộ luật TTHS một số nước trên thế giới phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa và tình hình chính trị của Việt Nam.

     Thứ tư: Việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS phải tiến hành một cách thận trọng, bảo đảm tính ổn định, tránh gây xáo trộn đối với các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp hình sự, bảo đảm tính liên tục, hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

     Từ những yêu cầu, định hướng như trên, theo chúng tôi, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS năm 2003 cần phải tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

     Một là: Phân định rõ hơn các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử trong tố tụng hình sự, loại bỏ các thẩm quyền không phù hợp với chức năng tố tụng của các chủ thể, đưa các chủ thể về đúng vị trí, vai trò của mình.

     Hai là: Tạo lập cơ chế để bảo đảm quyền của các bên buộc tội và những người tham gia tố tụng trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, đề cao vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự.

     Ba là: Cần xây dựng cơ chế bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Tạo điều kiện về pháp lý và thực tiễn để bị can, bị cáo và người bào chữa của họ thực hiện quyền chứng minh sự vô tội hoặc giảm tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bổ sung chế tài để xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm về quyền của người tham gia tố tụng.

     Bốn là: Cải tiến các thủ tục tố tụng tại phiên tòa để bảo đảm tranh tụng một cách dân chủ, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa. Xác định rõ việc buộc tội thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát, việc gỡ tội là của người bào chữa, Tòa án chỉ có chức năng xét xử.

     Năm là: Nghiên cứu tiếp thu một số nguyên tắc đặc trưng của tố tụng tranh tụng phù hợp với yêu cầu dân chủ hóa hoạt động tố tụng, bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án hình sự như: nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc lựa chọn truy tố...

     Sáu là: Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp với trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự; tăng quyền và trách nhiệm cho những người trực tiếp tiến hành tố tụng một cách hợp lý để họ chủ động hơn trong công việc.

     Bảy là: Tăng cường vị trí, vai trò của Viện kiểm sát theo hướng công tố gắn với điều tra, tăng cường công tố trong hoạt động điều tra. Cụ thể: cần sửa đổi theo hướng quy định Viện kiểm sát phải nắm bắt và quản lý đầy đủ, kịp thời các thông tin về tội phạm; các cơ quan tiếp nhận tin báo phải cung cấp ngay cho Viện kiểm sát, khi thấy cần thiết Viện kiểm sát có quyền xác minh tin báo. Bổ sung chế tài ràng buộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát; Viện kiểm sát có quyền rút hồ sơ trực tiếp điều tra nếu thấy việc điều tra của CQĐT không đáp ứng được yêu cầu của Viện kiểm sát; các biện pháp trinh sát thực hiện trong quá trình điều tra vụ án ảnh hưởng tới các quyền cơ bản của công dân (nghe lén, mở bưu kiện, bưu phẩm...) chỉ được thực hiện sau khi có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát...

     Ngoài ra, đối với các thủ tục tố tụng đặc biệt như bắt buộc chữa bệnh, thủ tục đối với người chưa thành niên, thủ tục rút gọn; công tác xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; thi hành án hình sự, hợp tác quốc tế cũng cần phải nghiên cứu, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, theo hướng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng, đặc biệt là bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Nguồn tin: "Theo Tạp chí nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật số 2 (298)/2013"

Tổng số điểm của bài viết là: 7 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
landlink0709@gmail.c - 02/11/2013 12:01
MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM - VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN

TRỊNH DUY THUYÊN
Mô hình Tố tụng hình sự (TTHS) là cách thức tổ chức và phương thức hoạt động của TTHS. Trên thế giới đang tồn tại 2 mô hình TTHS đặc trưng là:
- Mô hình tố tụng tranh tụng (TTTT).
Tinh thần cốt lõi của mô hình này là thủ tục công bằng, trong đó bắt buộc có các yếu tố: xét xử miệng, thẩm tra chéo nhân chứng và nguyên tắc đối trọng công bằng. Tuy nhiên, mô hình này thường thiên về bảo vệ lợi ích cá nhân trong vụ án hình sự, việc trừng trị tội phạm là để bảo vệ lợi ích cá nhân của bên bị thiệt hại.
Mô hình TTTT coi việc nhận tội của bị can, bị cáo là lý do để chấm dứt giải quyết vụ án, cho phép đàm phán nhận tội. Trong mô hình này không tồn tại “hồ sơ vụ án hình sự”, nhưng trước khi xét xử bên buộc tội và bên bào chữa đều có quyền lập hồ sơ cho riêng mình.
Mô hình này có một quy trình tố tụng đặc biệt là trong giai đoạn xét xử thể hiện tính công bằng cao: sự bình đẳng giữa công tố viên và luật sư, cả hai có quyền và nghĩa vụ như nhau trong suốt quá trình tố tụng.
Trong TTTT, quyền im lặng của bị cáo được tuyệt đối tôn trọng. Có những quy định rất phức tạp và chặt chẽ về chứng cứ sử dụng tại phiên toà: không được sử dụng chứng cứ gián tiếp, chứng cứ nhằm kích động, bôi xấu bị cáo, đương sự hay người làm chứng, chứng cứ đánh vào tình cảm của bồi thẩm đoàn…
Nhìn chung, mô hình TTTT cho rằng quyền tự do của công dân quan trọng tới mức mọi hoạt động TTHS đều phải bảo đảm các quyết định và hành vi TTHS của cơ quan và người có thẩm quyền phải dựa trên thông tin thật chính xác. Mô hình này đang được các quốc gia như Anh, Mỹ ... áp dụng.
- Mô hình tố tụng thẩm vấn (TTTV).
Mô hình cho rằng quyền tự do của công dân quan trọng tới mức mọi hoạt động TTHS phải hướng tới mục tiêu hạn chế tội phạm. Đặt trọng tâm của toàn bộ quá trình tố tụng là tìm kiếm sự thật khách quan của vụ án và trách nhiệm đó thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, cơ quan điều tra (CQĐT), viện kiểm sát (VKS), toà án (TA) có nhiệm vụ tìm, đưa ra các chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội.
Việc thu thập chứng cứ, loại trừ chứng cứ, kỹ thuật nghề nghiệp trong TTTV ít phức tạp hơn so với TTTT. Do đó, với mô hình tố tụng này, tất cả các giai đoạn chứng minh sự thật vụ án thường dễ tiếp cận. Hiện nay, đây cũng là mô hình bảo vệ tốt quyền con người trong TTHS, không thua kém mô hình TTTT. Đặc biệt, TTTV diễn ra nhanh, đỡ tốn kém và thường được áp dụng ở các quốc gia như Việt Nam, Liên bang Nga....
So sánh pháp luật, Việt Nam thuộc các quốc gia theo truyền thống pháp luật XHCN, có nguồn gốc từ hệ thống Dân luật (Civil law) và sử dụng mô hình TTTV. Tuy nhiên, sự vận dụng mô hình này ở Việt Nam chứa đụng nhiều yếu tố tích cực của mô hình TTTT. Chính điều này làm cho TTHS của nước ta hiện nay không còn là mô hình TTTV nguyên mẫu, mà đã có sự giao thoa một số đặc tính của TTTT và mang dáng dấp của mô hình TTHS pha trộn. Mô hình pha trộn này có những đặc điểm sau:
- Quá trình tố tụng được chia thành 2 giai đoạn tách bạch là giai đoạn trước khi xét xử và giai đoạn xét xử. Giai đoạn khi trước xét xử gồm khởi tố, điều tra và truy tố. Các hoạt động điều tra được tiến hành công khai. Tuy nhiên, kết quả điều tra được giữ bí mật cho đến khi có kết luận điều tra.
- TTHS đặt mục tiêu tìm đến chân lý khách quan của sự việc để giải quyết vụ án. Việc thu thập tài liệu, chứng cứ đều thể hiện bằng văn bản, được CQĐT tập hợp và xây dựng thành hồ sơ vụ án hình sự. Hồ sơ vụ án hình sự chứa đựng hầu hết các thông tin, chứng cứ về tội phạm và người phạm tội, được các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để thực hiện các chức năng tố tụng của mình, đồng thời được bổ sung, hoàn thiện qua từng giai đoạn tố tụng.
- Trong giai đoạn xét xử, hoạt động tranh tụng tại phiên tòa được thể hiện rõ nét, nhất là tại phiên toà hình sự sơ thẩm. Phiên toà được tiến hành công khai; các quyền con người, quyền công dân được đảm bảo, như quyền bình đẳng trước TA, quyền được bào chữa và nhờ người khác bào chữa, quyền bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong việc đưa ra chứng cứ, trình bày lý lẽ của mình. Thẩm phán được nghiên cứu hồ sơ trước khi xét xử, là trọng tài giữa bên buộc tội và bên bào chữa, làm người điều khiển và duy trì trật tự phiên toà, ngoài ra còn tham gia vào quá trình xét hỏi nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, sau đó nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết cuối cùng.
- Khác với mô hình TTTT, TTHS Việt Nam không coi vụ án hình sự là tranh chấp, xung đột pháp lý giữa các bên. Vụ án hình sự xảy ra bị xem là đã xâm hại tới trật tự công cộng, lợi ích chung của xã hội và Nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết. Việc giải quyết vụ án hình sự hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước.
Với các đặc điểm trên, mô hình TTHS nước ta thời gian qua đã phát huy tác dụng trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng chủ động điều tra, truy tố, xét xử, đảm bảo TTATXH và từng bước đáp ứng yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động TTHS ở nước ta hiện nay đang có sự mâu thuẫn, chồng lấn giữa các chức năng cơ bản của TTHS, cụ thể:
- Cùng một chủ thể pháp luật, nhưng lại được giao thực hiện đồng thời nhiều chức năng tố tụng, như: TA có thẩm quyền khởi tố vụ án; trả lại hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung khi thấy thiếu chứng cứ quan trọng hoặc khi có căn cứ cho rằng bị cáo còn phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác... Vì vậy, TA tuy thực hiện chức năng xét xử nhưng đang làm thay trách nhiệm chứng minh tội phạm tại phiên tòa. Điều này được coi là chồng lấn với chức năng buộc tội của VKS.
- Pháp luật TTHS đang thiếu các cơ chế để người bào chữa thực hiện đầy đủ, có hiệu quả trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ. Mặc khác, cũng chưa thể chế hóa về trách nhiệm của người bào chữa trong quá trình thực hiện chức năng bào chữa nếu có sai phạm hoặc không công tâm sẽ bị xử lý như thế nào.
- Mối quan hệ giữa VKS với CQĐT là quan hệ phối hợp, chế ước. Tuy nhiên, cơ chế để bảo đảm quan hệ phối hợp chưa được quy định chặt chẽ. Vì vừa phối hợp, vừa chế ước lẫn nhau nên dẫn đến tình trạng trả hồ sơ giữa các cơ quan tố tụng, kéo dài thời hạn tố tụng, hạn chế việc thực hiện mục tiêu chống làm oan người vô tội, chống bỏ lọt tội phạm trong TTHS.
- Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa nhiều lúc, nhiều nơi vẫn mang tính chủ trương, chưa được quán triệt thực hiện nghiêm túc trên thực tế. Nội dung tranh luận của luật sư ở một số phiên toà chưa thực sự được xem xét và ghi nhận một cách thoả đáng. Quy định trình tự, thủ tục xét xử và hình thức tổ chức phiên toà hình sự còn nhiều bất cập, không đảm bảo sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa cả về nội dung và hình thức. Vẫn còn đặt nặng việc chứng minh sự vi phạm của người bị buộc tội, đôi khi coi người bị truy tố ra trước tòa án như kẻ phạm tội, nên chưa thể hiện đúng tinh thần nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật”. Ngoài ra, việc thẩm phán đưa ra phán quyết vụ án vẫn còn phải thỉnh thị án đối với TA cấp trên, nên phần nào không đảm bảo nguyên tắc “Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
- Do tổ chức cơ quan tư pháp theo đơn vị hành chính, nên dẫn đến sự phụ thuộc của cơ quan tư pháp vào chính quyền địa phương và tác động tiêu cực đến sự độc lập trong xét xử.
- Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ tư pháp ở nước ta còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Trên cơ sở xác định tiếp tục hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam theo hướng mô hình TTHS pha trộn và căn cứ định hướng Nghị Quyết số 49–NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là một khâu đột phá của hoạt động tư pháp”, thiết nghĩ việc tiếp tục đổi mới mô hình TTHS Việt Nam là yêu cầu bức thiết hiện nay. Để làm được như vậy, theo tôi các cơ quan chức năng cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
Một là, nâng cao chất lượng xét xử của TA bằng việc loại bỏ những thẩm quyền còn trùng lắp với CQĐT và VKS, như thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự (khoản 1 Điều 104 Bộ luật TTHS 2003), thẩm phán trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 179 và Điều 199 Bộ luật TTHS 2003). Đồng thời, sửa đổi Điều 10 Bộ luật TTHS 2003 theo hướng xác định TA là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, vì TA có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đó thông qua chức năng xét xử của mình. TA không phải là người truy tố bị cáo, nên TA không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm. Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng buộc tội (CQĐT, VKS). Những quy định này được xem là “đường cứu nạn” cho VKS.
Hai là, tạo lập cơ chế để bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong việc thực thi các chức năng buộc tội và bào chữa. Thể chế hóa trách nhiệm của người bào chữa trong quá trình bào chữa, nếu phát hiện thiếu trách nhiệm, không công tâm với nghề (nhất là đối với người bào chữa được chỉ định).
Ba là, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS theo mục đích chung là giải quyết đúng đắn vụ án, bảo vệ pháp chế, góp phần ổn định TTATXH, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.
Khẳng định nhiệm vụ của CQĐT và VKS là đi tìm sự thật khách quan của vụ án, tìm kiếm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội. Tăng cường hơn nữa trách nhiệm của VKS trong TTHS, đặc biệt là trong giai đoạn điều tra vụ án.
Bốn là, TA thực hiện chức năng xét xử, có trách nhiệm trong việc xác định sự thật vụ án. Theo đó, TA nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà. Tại phiên toà, sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa thì kiểm sát viên tiến hành xét hỏi và người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa. Nếu trong quá trình xét hỏi và bào chữa mà thẩm phán thấy còn vấn đề chưa rõ, chưa đủ cơ sở cho việc ra phán quyết, thì thẩm phán yêu cầu kiểm sát viên, người bào chữa xét hỏi thêm hoặc trực tiếp tiến hành xét hỏi bị cáo, nhân chứng và những người tham gia tố tụng khác. Đồng thời, để thực hiện tốt vấn đề tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, TA phải là trung tâm, dựa vào kết quả tranh tụng và tài liệu, chứng cứ giữa các bên để đưa ra phán quyết cuối cùng.
Thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc “Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Vấn đề thỉnh thị án đối với TA cấp trên để hướng dẫn trong một số trường hợp là cần thiết, nhưng những hướng dẫn này chỉ để tham khảo. Trong quá trình xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải căn cứ và tài liệu, chứng cứ đã có và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, không dựa vào các hướng dẫn của TA cấp trên để ra phán quyết.
Năm là, để thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về tăng cường tranh tụng, cần tiếp thu mặt tích cực của mô hình TTTT trên thế giới vào TTHS nước ta. Tạo lập cơ chế để bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa bên buộc tội và bên bào chữa. Đồng thời, nghiên cứu mô hình tiến đến xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động của của cơ quan tư pháp theo khu vực để đảm bảo tính độc lập trong hoạt động tố tụng.
Sáu là, tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp, đặc biệt là cán bộ có chức danh tư pháp. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
Phương hướng tiếp tục hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam trên sẽ giúp các cơ quan tư pháp (nhất là Cơ quan Cảnh sát điều tra trong CAND) xác định rõ thẩm quyền, mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các thiết chế bổ trợ tư pháp trong quá trình khởi tố, điều tra để xác định sự thật vụ án, bảo đảm quá trình giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Qua đó, các cơ quan tư pháp hoạt động một cách độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, có sự theo dõi, giám sát đối trọng giữa các cơ quan tư pháp với nhau để chế ước lẫn nhau./.
T.D.T
___________________________________________

Những tin mới hơn

 

QUYẾT ĐỊNH SỐ 63/QĐ-VKS-TTr

Quyết định ban hành quy định về chấp hành kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ tại VKSND Tp Cần Thơ

/vkscantho/uploads/quyet-dinh-ban-hanh-quy-dinh-ve-viec-chap-hanh-ky-cuong-luat-cong-vu-tai-vks-tp-ctpdf.pdf
     
 
 

thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử
thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử