20:33 ICT Thứ tư, 23/10/2019

Hoạt động


Tin tức



Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Bảo vệ pháp luật
Đời sống & Pháp Luật
VKSND Tối cao

Tỉ giá ( Vietcombank )

Tháng Mười 23, 2019, 7:30 pm
Code Buy Transfer Sell
AUD 15,687.48 15,782.17 16,050.55
CAD 17,411.48 17,569.61 17,868.38
CHF 23,094.64 23,257.44 23,652.94
DKK - 3,403.36 3,510.04
EUR 25,598.39 25,675.42 26,446.53
GBP 29,522.14 29,730.25 29,994.89
HKD 2,916.63 2,937.19 2,981.17
INR - 326.92 339.75
JPY 206.93 209.02 215.08
KRW 18.32 19.28 20.82
KWD - 76,373.15 79,369.83
MYR - 5,502.78 5,574.02
NOK - 2,497.70 2,575.99
RUB - 363.25 404.77
SAR - 6,172.00 6,414.17
SEK - 2,374.66 2,434.44
SGD 16,818.11 16,936.67 17,121.64
THB 750.25 750.25 781.55
USD 23,145.00 23,145.00 23,265.00

Trang chủ » Hoạt động » Nghiên cứu - trao đổi

CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Địa vị pháp lý của VKSND trong tố tụng hành chính ( Kỳ 1 )

Thứ ba - 04/06/2013 08:03
Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong một quan hệ pháp luật tố tụng là tổng hợp các quy định pháp luật xác định vị trí, vai trò và nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong quan hệ tố tụng đó. Trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính thì tổng hợp các quy định xác định vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2006 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 chính là những văn bản pháp luật xác định địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính hiện hành.

Ngày 24/12/2010, Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Tố tụng hành chính và đến ngày 01/7/2011 sẽ có hiệu lực thi hành (thay thế cho Pháp lệnh TTGQCVAHC). Tuy Điều 23 Luật Tố tụng hành chính không ghi cụ thể như tại Điều 10 Pháp lệnh “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và của Pháp lệnh này” nhưng không vì thế mà các quy định về Viện kiểm sát nhân dân trong Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2002 không phải là căn cứ pháp lý trong tố tụng hành chính mà ngược lại. Tuy nhiên, do Luật Tố tụng hành chính mới được ban hành với nhiều nội dung mới nên chúng ta đi sâu tìm hiểu về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong Luật Tố tụng hành chính nhằm đề ra phương hướng hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân trong thời gian tới khi luật này có hiệu lực thi hành là chủ yếu. Đương nhiên trong quá trình tìm hiểu vẫn phải đề cập đến những quy định về Viện kiểm sát nhân dân trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
Thứ nhất, quy định về Viện kiểm sát nhân dân trong Luật Tố tụng hành chính
Trong tổng số 18 chương với 265 điều luật thì có 15 chương với 80 điều luật của Luật Tố tụng hành chính quy định về Viện kiểm sát nhân dân. Trong tổng số 6 chương mới (Pháp lệnh TTGQCVAHC không có) thì có 5 chương quy định về Viện kiểm sát nhân dân. Để xác định rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân, chúng ta lần lượt phân tích theo nhóm các chương của Luật Tố tụng hành chính có liên quan với nhau, đồng thời so sánh với những quy định của Pháp lệnh TTGQCVAHC để thấy rõ những điểm mới quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong Luật Tố tụng hành chính.
1. Quy định về Viện kiểm sát nhân dân tại các Chương I - Những quy định chung và Chương III - Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng…
Điều 23 Luật Tố tụng hành chính “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính” khẳng định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính. Khoản 1 Điều 23 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật”. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính; đồng thời chỉ rõ vai trò, mục đích của việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính của Viện kiểm sát nhân dân.
Khoản 2 Điều 23 Luật Tố tụng hành chính chỉ rõ phạm vi kiểm sát các vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án, và cả việc thi hành bản án, quyết định của Toà án. Đồng thời, ngoài việc quy định đối tượng kiểm sát là việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và những người tham gia tố tụng hành chính, khoản 2 Điều 23 cũng quy định Viện kiểm sát tham gia phiên toà, phiên họp của Toà án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị trong tố tụng hành chính.
Tại khoản 3 Điều 23, quy định Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã trong trường hợp ở đó có người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự nếu không có người đứng ra khởi kiện để Uỷ ban nhân dân cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự đó. Quy định này thay cho quy định về quyền khởi tố vụ án hành chính tại Điều 18 Pháp lệnh TTGQCVAHC hiện hành.
Tại Điều 34, Điều 39 và Điều 40 Chương III Luật TTHC thì Viện kiểm sát nhân dân được xác định là cơ quan tiến hành tố tụng và Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là những người tiến hành tố tụng, đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Luật Tố tụng hành chính và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. So với quy định về vấn đề này trong Pháp lệnh chúng tôi thấy không thay đổi nhiều.
Thứ hai, quy định tại Chương V - Các biện pháp khẩn cấp tạm thời và Chương VI - Chứng minh và chứng cứ.
Pháp lệnh TTGQCVAHC không có chương riêng về các biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng tại khoản 2 Điều 33 Pháp lệnh quy định Viện kiểm sát có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hành chính. Tại Chương V Luật Tố tụng hành chính không quy định thẩm quyền này mà thay vào đó quy định tại Điều 70: Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không ra quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Về chứng minh và chứng cứ, tại khoản 3 Điều 78 của Chương VI Luật Tố tụng hành chính quy định Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án xác minh thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Viện kiểm sát chỉ tự mình thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng để phục vụ cho việc kháng nghị bản án, quyết định của Toà án. Nói cách khác là trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, thông thường thì Viện kiểm sát không tiến hành thu thập chứng cứ nhưng trong trường hợp để có căn cứ kháng nghị thì Viện kiểm sát có thể tự thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng hoặc yêu cầu Toà án xác minh thu thập chứng cứ hoặc có thể vừa tự mình thu thập vừa yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ.
Do vậy, một số quy định tại Pháp lệnh TTGQCVAHC như tại Điều 24 về quyền triệu tập người làm chứng, Điều 25 về quyền trưng cầu giám định của Viện kiểm sát không quy định trong Luật Tố tụng hành chính nữa. Một điểm mới nữa tại khoản 2 Điều 87 quy định Toà án, Viện kiểm sát có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ và họ phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Toà án, Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Như vậy, với những nội dung mới và hợp lý hơn, đầy đủ hơn thì công tác phát hiện vi phạm để kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp có nhiều thuận lợi hơn so với Pháp lệnh TTGQCVAHC.
Thứ ba, quy định tại Chương VIII - Khởi kiện, thụ lý vụ án và Chương IX - Chuẩn bị xét xử.
Về chương khởi kiện, thụ lý vụ án, Điều 110 Luật TTHC, có hai khoản quy định về Viện kiểm sát. Khoản 1 quy định: Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án đã trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện khi Viện kiểm sát nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Toà án cùng cấp. Và khoản 3 quy định: Trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh án Toà án thì Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết việc trả lại đơn cho người đã khởi kiện. Đây là quy định rất mới trong Luật Tố tụng hành chính vì lần đầu tiên giao cho Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát ngay từ khi khởi kiện vụ án hành chính, tức là trước khi Toà án thụ lý vụ án.
Chương IX - Chuẩn bị xét xử, Luật Tố tụng hành chính quy định đầy đủ các điều kiện pháp lý tại các Điều 122, Điều 123, Điều 124 để Viện kiểm sát có thể tiến hành các hoạt động kiểm sát việc ra các quyết định tạm đình chỉ, quyết đình chỉ và quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án cấp sơ thẩm. Các quy định Viện kiểm sát ở chương này đầy đủ, rõ ràng hơn so với Pháp lệnh TTGQCVAHC nhưng không có điểm gì mới.
Thứ tư, quy định tại các chương: Chương X - Phiên toà sơ thẩm, Chương XI - Thủ tục phúc thẩm, Chương XII - Thủ tục giám đốc thẩm, Chương XIII - Thủ tục tái thẩm và Chương XIV - Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Đây là các chương trọng tâm của Luật Tố tụng hành chính vì phiên toà sơ thẩm và các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và cả thủ tục đặc biệt xem xét lại các quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là những hoạt động tập trung nhất, điển hình nhất của Toà án trong tố tụng hành chính.
Điểm mới trong các chương này là nội dung phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm, giám đốc thẩm có phân biệt khác nhau. Cụ thể:
- Tại phiên toà sơ thẩm, Điều 160 Luật Tố tụng hành chính quy định: “Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án”.
- Tại phiên toà phúc thẩm, khoản 3 Điều 204 Luật Tố tụng hành chính quy định: “Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm”.
- Tại phiên toà giám đốc thẩm, khoản 3 Điều 223 Luật Tố tụng hành chính quy định: “Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án”.
Khoản 2 Điều 215 Chương XIII Luật TTHC quy định thời gian kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm “Trong trường hợp đương sự đã có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 211 của Luật này nhưng đã hết thời hạn kháng nghị mà người có thẩm quyền kháng nghị mới phát hiện được vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án thì thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của người có thẩm quyền kháng nghị không phụ thuộc vào thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này” (không phải là 2 năm mà có thể là trên 2 năm). Đây là quy định rất mới của Luật Tố tụng hành chính.
Tổng số điểm của bài viết là: 14 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

QUYẾT ĐỊNH SỐ 63/QĐ-VKS-TTr

Quyết định ban hành quy định về chấp hành kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ tại VKSND Tp Cần Thơ

/vkscantho/uploads/quyet-dinh-ban-hanh-quy-dinh-ve-viec-chap-hanh-ky-cuong-luat-cong-vu-tai-vks-tp-ctpdf.pdf
     
 
 

thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử
thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử