05:29 ICT Thứ bảy, 02/07/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

TÍCH CỰC THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 62 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN (26/7/1960 - 26/7/2022)

Yêu cầu bồi thường Nhà nước

Thứ hai - 29/12/2014 14:49
Tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết yêu cầu bồi thường Nhà nước trong hoạt động tố tụng tại Cần Thơ
VKSND TP CẦN THƠ

VKSND TP CẦN THƠ

Vấn đề bồi thường thiệt hại cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra là nghĩa vụ, trách nhiệm của một nhà nước dân chủ, “nhà nước của dân, do dân và vì dân”; nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức; thể hiện sự bình đẳng, đối xử công bằng của pháp luật đối với các cơ quan nhà nước và mọi cá nhân, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án .

          Trước khi Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành (tháng 6/2009), trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng được qui định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau: Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc “giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra”, cùng một số văn bản hướng dẫn thi hành; đặc biệt là Nghị quyết số 388/2003/NQ – UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về “bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra” và Thông tư 04/2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tài chính, Bộ quốc phòng, Bộ công an hướng dẫn thi hành Nghị quyết 388/NQ – UBTVQH11 đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng và quyền, lợi ích chính đáng của công dân. Việc ưu tiên ban hành sớm các văn bản pháp luật trên thể hiện tính cấp bách  và sự quan tâm trước hết đối với vấn đề bồi thường oan, sai trên lĩnh vực tố tụng, nhất là tố tụng hình sự. Và trong thời gian qua, kết hợp hai văn bản trên với các qui định của Luật hình sự, Luật dân sự và cả Luật khiếu nại, tố cáo, các cơ quan thẩm quyền nhà nước đã bước đầu giải quyết được khá nhiều vụ bồi thường thiệt hại về oan, sai trong lĩnh vực tố tụng, củng cố niềm tin của các tổ chức, cá nhân vào pháp luật của Nhà nước.

          Trong những năm qua, cơ quan tố tụng ở thành phố Cần Thơ đã tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đã khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử kịp thời các vụ án hình sự, đảm bảo trật tự xã hội, đáp ứng nhiệm vụ chính trị tại địa phương.     Từ khi có Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN), tại thành phố Cần Thơ, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp có một trường hợp yêu cầu trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng (hiện đang giải quyết).

          Để trao đổi về các nội dung cơ bản của Luật TNBTCNN về quyền và thủ tục yêu cầu bồi thường, thủ tục giải quyết bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng, có những đề cập như sau:

          - Về quyền và thủ tục yêu cầu bồi thường: Luật TNBTCNN đã quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trên các lĩnh vực: quản lý hành chính, tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính) và thi hành án, có thể nói Luật đã cụ thể hóa được rõ ràng phạm vi trách nhiệm bồi thường trên cả 03 lĩnh vực, quyền được yêu cầu bồi thường của tổ chức, cá nhân bị gánh chịu thiệt hại về cả vật chất lẫn tinh thần, các thiệt hại cụ thể được bồi thường, xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường, thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại và cả trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ. Căn cứ để cá nhân, tổ chức bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường được qui định cụ thể tại Điều 4 Luật TNBTCNN, đó là khi có “văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật TNBTCNN”.

Như vậy, theo quy định của Luật TNBTCNN thì người bị thiệt hại không có quyền yêu cầu bồi thường ngay khi cho rằng hành vi của người thi hành công vụ trái pháp luật, mà đòi hỏi phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật (hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường). Tại khoản 3 Điều 3 của Luật quy định: Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Thực tế, việc xác định hành vi nào là trái pháp luật gây ra thiệt hại, và người thi hành công vụ có làm trái pháp luật hay không là một việc khó khăn và phải có thời gian. Như vậy, Luật TNBTCNN có phát huy được hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành chính và hiệu quả ban hành bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

          Theo Luật TNBTCNN, thì đối tượng được bồi thường không chỉ là người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, mà còn bao gồm cả đối tượng là tổ chức (trong đó có doanh nghiệp) bị thiệt hại do hành vi của người thi hành công vụ gây ra. Tại Điều 6 của Luật TNBTCNN quy định rõ các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường, vì vậy Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp có yêu cầu bồi thường và chứng minh đầy đủ điều kiện để được bồi thường. Đồng thời thu nhập thực tế bị mất của cá nhân, tổ chức cũng được quy định cụ thể, rõ ràng hơn để xem xét bồi thường (Điều 46).

Theo quy định về hồ sơ yêu cầu bồi thường thì phải có đơn của người yêu cầu bồi thường, vì vậy, việc quan trọng đầu tiên đối với cá nhân, tổ chức khi yêu cầu bồi thường là phải có đơn yêu cầu bồi thường và các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền của mình.

- Nhận thấy, Luật TNBTCNN đã có hiệu lực gần 02 năm nhưng vẫn còn một số bất cập như: Theo thủ tục thì việc thương lượng để giải quyết yêu cầu bồi thường giữa người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường là thủ tục bắt buộc. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy có trường hợp thương lượng không thành vì số tiền yêu cầu bồi thường mà doanh nghiệp bị thiệt hại đưa ra quá cao, ngân sách dành cho bồi thường thì hạn chế và những khoản người bị oan yêu cầu ngoài quy định như chi phí vé máy bay, tiền thuê mướn luật sư, tiền ăn nghỉ của những người thân đi thăm nuôi người bị oan, những thiệt hại do không khai thác tài sản, phát sinh lãi suất ngân hàng, những thiệt hại do khách hàng chiếm dụng vốn…thì hiện nay vẫn chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể, dẫn tới việc giải quyết bồi thường gặp khó khăn hoặc kéo dài. Bởi vậy, cần sớm ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể hơn để thống nhất thực hiện.

- Thông thường khi có sự việc xảy ra, cá nhân, tổ chức chỉ để ý lưu giữ chứng cứ chứng minh mình bị oan sai, mà ít lưu ý đến việc giữ chứng cứ để chứng minh thiệt hại xảy ra, chưa kể những trường hợp cố ý đưa ra những yêu cầu mà không dựa vào căn cứ thực tế nào, ví dụ như: tiền thuê xe, ăn uống…Trong khi đó, tiến độ ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn còn chậm cũng gây khó cho người bị thiệt hại trong quá trình tiếp cận pháp luật, ngay cả cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề bồi thường cũng đang trong quá trình kiện toàn, nên việc phổ biến các quy định pháp luật về vấn đề này còn hạn chế, đặc biệt là công tác tuyên truyền, phổ biến Luật TNBTCNN chưa kịp thời, chưa tới được nhiều đối tượng là người dân, tổ chức, doanh nghiệp.

- Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, theo quy định tại Điều 33 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước thì Tòa án có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi ra bản án, quyết định sơ thẩm (đã có hiệu lực pháp luật); ra bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp bản án, quyết định bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đều phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mà chỉ thực hiện bồi thường trong trường hợp ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án – tức là do lỗi cố ý (khoản 4 Điều 28 của Luật này). Trong khi đó, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và tố tụng hành chính thì cấp giám đốc thẩm chỉ có thẩm quyền xem xét đối với kết luận của bản án, quyết định bị kháng nghị có phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hay không; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hay không, mà không có thẩm quyền và trách nhiệm điều tra, kết luận các sai sót của bản án, quyết định bị kháng nghị là do lỗi cố ý hay do trình độ, năng lực của những người tiến hành tố tụng. Vậy, để có cơ sở cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thì ai, cơ quan nào có trách nhiệm điều tra, kết luận khi ra bản án, quyết định bị hủy mà biết rõ là trái pháp luật -  Điều này Luật còn bỏ ngỏ.

Mặt khác, để xác định việc ra bản án, quyết định trái pháp luật (không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, sai lầm trong việc áp dụng pháp luật) do cố ý hay do trình độ, năng lực của người tiến hành tố tụng là điều không dễ dàng.

Để Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước thực sự phát huy hiệu quả trong cuộc sống, cần có các giải pháp khắc phục những hạn chế và kịp thời tháo gỡ những vướng mắc nêu trên.

- Ngoài ra, cơ quan thi hành còn gặp khó khăn trong quá trình thực hiện, thủ tục cấp và chi trả bồi thường. Tại  Điều 54 Luật TNBTCNN quy định: thời hạn tối đa để hoàn thiện hồ sơ gửi cơ quan tài chính có thẩm quyền hoặc cơ quan quản lý cấp trên trong trường hợp hưởng kinh phí từ ngân sách trung ương là 5 ngày làm việc, kể từ ngày bản án, quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật. Thời hạn để cấp kinh phí bồi thường là không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị bồi thường hợp lệ. Sau khi nhận được kinh phí do cơ quan tài chính cấp, trong thời hạn 5 ngày làm việc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thực hiện việc chi trả bồi thường cho người bị thiệt hại hoặc nhân thân của người bị thiệt hại. Tuy nhiên, dù đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Luật TNBTCNN để đề nghị cơ quan quản lý cấp trên xin cấp kinh phí bồi thường nhưng việc cấp kinh phí bồi thường vẫn còn chậm hoặc chưa được thực hiện. Điều này đã ảnh hưởng đến quyền lợi  hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.

Thời gian qua, công tác tuyên truyền pháp luật về vấn đề này vẫn còn hạn chế nên nhiều người bị thiếu thông tin, nhận thức hạn chế về quyền yêu cầu bồi thường nhà nước hoặc còn lúng túng trong áp dụng pháp luật TNBTCNN, gây khó khăn cho hoạt động giải quyết bồi thường của cơ quan chức năng cũng như cho chính người bị thiệt hại. Đó là những trường hợp hết thời hạn quy định, mà người yêu cầu bồi thường không bổ sung hồ sơ yêu cầu bồi thường bởi thiếu một số giấy tờ có liên quan theo quy định hoặc thời hiệu yêu cầu bồi thường đã hết mới gửi đơn đòi yêu cầu bồi thường. Tình trạng này đã gây mất thời gian của cơ quan thực thi công tác bồi thường cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người yêu cầu bồi thường.

- Công tác bồi thường oan sai theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ được giao cho Phòng THQCT – KSĐT – KSXXST án hình sự về Kinh tế và Chức vụ (Phòng 1), đây là công tác kiêm nhiệm, không chuyên trách mà nhiệm vụ chính của Phòng là Thực hành quyền công tố - Kiểm sát điều tra – Kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. Hiện nay, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chủ yếu trong lĩnh vực tố tụng hành chính và dân sự, cũng như các chứng cứ trong vụ án dân sự, hành chính, vì vậy khi có sự việc xảy ra đơn vị sẽ gặp khó khăn trong quá trình giải quyết.

Trong trường hợp vụ án có kháng nghị giám đốc thẩm nhưng chưa có kết quả trả lời, theo qui định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì tiến hành xin lỗi, thương lượng bồi thường, nhưng nếu sau này có Quyết định giám đốc thẩm hủy án hoặc sửa án thì giải quyết như thế nào?

            Tóm lại, giải quyết bồi thường là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi không chỉ kiến thức pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà còn phải áp dụng cả pháp luật liên quan về khiếu nại, tố cáo, tố tụng. Mặt khác, chưa có nhiều văn bản hướng dẫn về vấn đề này nên cán bộ, công chức khi giải quyết bồi thường còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Thiết nghĩ, trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả triển khai thi hành Luật TNBTCNN cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để các cá nhân, tổ chức được tiếp cận và nắm rõ các quy định của pháp luật với các quy định về pháp luật bồi thường Nhà nước, từ đó có ý thức trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tăng cường tập huấn, bồi dưỡng những kỷ năng cần thiết về công tác bồi thường Nhà nước để nâng cao nhận thức và nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác bồi thường nhà nước; ban hành đầy đủ văn bản hướng dẫn để áp dụng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội nước ta nói chung hiện nay.
          

Tác giả bài viết: Lê Thị Trúc Linh

Nguồn tin: VKSND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 153

Máy chủ tìm kiếm : 65

Khách viếng thăm : 88


Hôm nayHôm nay : 3998

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 18837

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 19030296


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo