15:13 ICT Thứ năm, 26/05/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 132 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2022)

Tranh chấp đất, mất tình anh em ruột

Thứ ba - 14/12/2021 15:57
Ngày 07/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai đã phối hợp với Tòa án cùng cấp tổ chức phiên tòa Dân sự rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp hợp đồng cầm cố đất quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Lê Tấn Tr (sinh năm 1959, ngụ xã Định Môn, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ) và bị đơn ông Lê Văn L (sinh năm 1966, ngụ xã Định Môn, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ)
Phiên tòa xét xử vụ tranh chấp hợp đồng cố đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của TAND huyện Thới Lai ngày 07/12/2021)

Phiên tòa xét xử vụ tranh chấp hợp đồng cố đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của TAND huyện Thới Lai ngày 07/12/2021)


Tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng nguồn gốc đất là của ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00487, thửa 286, tờ bản đồ số 01, diện tích 3.405 m2, cấp năm 1991, tọa lạc tại xã Định Môn, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ. Năm 1994 ông có cố phần đất này cho ông Bùi Chí D là 25 chỉ vàng 24K, thời gian cố là 03 năm, đến năm 1997 hết thời gian cố đất, ông D trả lại đất cho ông nhưng ông chưa có vàng chuộc thì em ruột của ông là Lê Văn L đứng ra thay ông trả vàng cho ông D và nhận đất canh tác đến nay; ông và ông L có làm tờ cố đất dài hạn chỉ có hai người ký và tờ giấy đó ông L giữ, ông không có giữ nên không cung cấp được. Đến nay ông có vàng chuộc lại đất, yêu cầu ông L trả lại đất nhưng ông L không đồng ý. Nay ông yêu cầu ông Lê Văn L phải giao trả phần đất tại thửa số 286, tờ bản đồ số 01, diện tích đo đạc thực tế 3.198 m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03352 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP Cần Thơ cấp ngày 31/12/2020, do ông Lê Tấn Tr đứng tên. Ông, bà sẽ trả lại cho ông L 25 chỉ vàng 24K.

Bị đơn cho rằng phần đất có nguồn gốc là của ông Lê Tấn Tr được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991, năm 1994 ông Tr cố cho Bùi Chí D với giá 25 chỉ vàng 24K, đến năm 1997 đến hạn chuộc ông Tr không có vàng chuộc thì ông đứng ra chuộc lại đất, ông đưa cho ông D 25 chỉ vàng 24K. Sau đó ông Tr kêu ông Ch để chuyển nhượng phần đất này, ông hay được có gởi đơn đến chính quyền địa phương ngăn cản, Ban nhân dân ấp và UBND xã Định Môn mời lên giải quyết và hòa giải thành theo đó ông sẽ chuyển nhượng phần đất này của ông Tr với giá 35 chỉ vàng 24K, sau đó giữa ông và ông Tr có làm giấy là “Tờ chuyển nhượng và sang đất ngày 20/3/1998”, bên bán là ông Lê Tấn Tr và vợ là Lê Thị Ch, bên sang đất là Lê Văn L có ghi số tiền “12.700đ” (mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng) và “Tờ sang đất ngày 20/3/1998” bên bán là Lê Tấn Tr, bên mua là Lê Văn L, giá chuyển nhượng là 35 chỉ vàng 24K cộng thêm số tiền là 7.352.000 đồng. Lý do trong  hai tờ chuyển nhượng có ghi số tiền vì đó là số tiền ông đứng ra trả cho Ngân hàng thay cho ông Tr vì lúc đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp vay tiền Ngân hàng, nay ông không yêu cầu gì đối với số tiền này. Đất thì ông sử dụng từ năm 1998 cho đến nay. Năm 1998, ông có yêu cầu ông Tr đưa giấy để ông làm thủ tục sang tên, ông Tr có đưa cho ông giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đến năm 1999 ông Tr và vợ qua mượn lại nói để chỉnh lại giấy, sau đó ông có yêu cầu ông Tr đưa lại giấy thì ông Tr nói cầm bên ngoài, ông vẫn yêu cầu ông Tr đưa giấy để sang tên và sự việc kéo dài đến năm 2020 thì ông Tr làm đơn cớ mất giấy và được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 286, tờ bản đồ số 01, diện tích 3.232 m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03352 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP Cần Thơ cấp ngày 31/12/2020 do ông Lê Tấn Tr đứng tên. Nay ông yêu cầu ông Lê Tấn Tr và bà Lê Thị Ch phải có nghĩa vụ làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 286, tờ bản đồ số 01, diện tích đo đạc thực tế 3.198 m2, vì đây là phần đất ông đã chuyển nhượng của ông Tr, bà Ch.

Sau phần đối đáp, Kiểm sát viên nêu quan điểm giải quyết vụ án: Bị đơn có yêu cầu phản tố có cung cấp chứng cứ là 02 tờ giấy “tờ chuyển nhượng và sang đất” ngày 20/3/1998 có chữ ký của người bán Lê Văn Tr là anh ruột và Chị Tư (chị dâu của bị đơn), người sang đất là Lê Văn L, có người làm chứng là Huỳnh Văn L (là bà con cô cậu ruột với cha của nguyên đơn và bị đơn) và Lê Văn Đ là em ruột của nguyên đơn và là anh ruột của bị đơn và “tờ sang đất” ngày 20/3/1998 có chữ ký của người sang là Lê Tấn Tr, Lê Thị Ch, người sang đất là Lê Văn L, có hai người làm chứng là Lê Văn Đ (là em ruột của nguyên đơn và là anh ruột của bị đơn) và Huỳnh Văn L (là bà con cô cậu ruột với cha của nguyên đơn và bị đơn). Những người làm chứng đã được lấy lời khai là ông Huỳnh Văn L, ông Lê Văn Đ, ông Nguyễn Hoàng X cũng đã biết và làm chứng sự việc nguyên đơn ông Tr và vợ là Lê Thị Ch có sang đất cho em ruột mình là Lê Văn Tr là đúng sự thật, những người này không có ai có mâu thuẩn gì với nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn cho rằng chỉ có cố đất cho bị đơn dài hạn với giá 25 chỉ vàng 24k nhưng không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh là phần diện tích đất tranh chấp nêu trên là chỉ cố chứ không phải sang cho bị đơn, trong khi những người làm chứng là anh em ruột, bà con ruột của nguyên đơn và bị đơn đều khẳng định là phần đất nêu trên nguyên đơn đã chuyển nhượng cho bị đơn từ năm 1998 và bị đơn đã canh tác từ năm 1998 đến nay sử dụng ổn định không có ai tranh chấp. Nguyên đơn chỉ dựa vào giấy chứng nhận được cấp lại lần 2 vào ngày 31/12/2020 để cho rằng đất không có chuyển nhượng là không có cơ sở. Tờ chuyển nhượng và sang đất ngày 20/3/1998 và Tờ sang đất ngày 20/3/1998 tuy chưa được công chứng chứng thực và việc chuyển nhượng chưa tuân thủ hình thức của hợp đồng chuyển nhượng nhưng có 02 người làm chứng là ông Lê Văn Đ và ông Huỳnh Văn L cũng chứng kiến việc chuyển nhượng và ký tên làm chứng, ông L đã sử dụng phần đất từ năm 1998 đến nay là 33 năm, nên về bản chất việc chuyển nhượng này được xem là hoàn thành, quyền và nghĩa vụ của các bên đã được thực thi. Căn cứ hướng dẫn tại tiểu mục b.1 mục 2.3 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao trường hợp này được công nhận là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp.

Căn cứ khoản 3 Điều 73 Luật Đất đai năm 1993; Điều 100, 203 Luật Đất đai năm 2013. Tiểu mục b.1 mục 2.3 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm 2.3 mục 2 Nghị quyết 02 ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất giữa ông L với ông Tr, bà Ch không bị vô hiệu. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Kết quả phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên được Hội đồng xét xử chấp nhận là chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Qua vụ án này, những người theo dõi phiên tòa cảm nhận rằng: ngoài phán quyết thấu tình đạt lý của Hội đồng xét xử còn là bài học kinh nghiệm cho những người muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải tìm hiểu quy định của pháp luật quy định về thủ tục chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng để tránh xảy ra tranh chấp về sau./.

Tác giả bài viết: Nguyễn Công Khánh

Nguồn tin: VKS ND huyện Thới Lai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 49

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 48


Hôm nayHôm nay : 9178

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 440951

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 18540831


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo