22:46 ICT Thứ sáu, 30/10/2020

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

CHÀO MỪNG NGÀY PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về tội Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em.

Thứ ba - 22/11/2016 10:12
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, cũng như qua thực tiễn công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung, nhận thấy công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự về các tội Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em ở hai cấp ngành kiểm sát nhân dân tại thành phố Cần Thơ còn nhiều thiếu sót dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài không cần thiết, thậm chí còn có trường hợp bị cấp phúc thẩm hủy án để điều tra lại...
Do đó, chúng tôi xây dựng chuyên đề “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về tội Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em” để đánh giá lại tình hình, bên cạnh đó cũng đưa ra những giải pháp để công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự về các tội nêu trên đạt được hiệu quả cao, góp phần giữ vững tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Thực trạng về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em:

Tình hình chung

Thành phố Cần Thơ nằm, là vùng kinh tế trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long, với nhiều mô hình du lịch sinh thái đa dạng ngày càng thu hút nhiều khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch. Điều đó, cũng đã làm nảy sinh ra các loại tội phạm. Trong đó, có tội phạm xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái trong những năm gần đây đã xảy ra có xu hướng tăng, diễn biến phức tạp và nghiêm trọng. Một số vụ án xảy ra trong thời gian dài mới bị phát hiện, bị hại của những vụ xâm hại tình dục có một số là những em bé còn rất ít tuổi.
Nhiều vụ án xảy ra có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự suy đồi đạo đức nghiêm trọng, coi thường tính mạng, sức khỏe và nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em, gây bức xúc trong dư luận xã hội, như bố đẻ hiếp dâm con gái ruột, chú hiếp dâm cháu….người bị hại trong các vụ án hiếp dâm còn quá nhỏ tuổi (có nhiều em chỉ mới 4, 5 tuổi), có những vụ xâm hại tình dục làm nạn nhân mang thai và sinh con.

Thủ đoạn của những kẻ có hành vi xâm phạm tình dục là đối tượng sử dụng rất nhiều những thủ đoạn khác nhau như dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực thông qua các tác động về mặt thể chất như vật ngã, giữ chân tay, bịt mồm, bóp cổ, trói, xé…làm cho nạn nhân mất đi khả năng chống cự để có thể gây án; còn đối với trẻ em thì thường là dụ dỗ cho quà, cho tiền cho chơi game, rủ đi chơi… Khi các em sập bẫy, chúng rủ đến nơi vắng người để thực hiện hành vi, sau khi thực hiện hành vi đồi bại thì dọa dẫm nạn nhân nếu tố cáo.

          Động cơ và mục đích của kẻ phạm tội là xuất phát từ động cơ cá nhân. Đó là sự ham muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bản thân, nó xuất phát từ bên trong bản chất con người của mỗi cá nhân và từ đó thúc đẩy họ dẫn đến hành vi phạm tội. 

Đây là các tội phạm có tính nguy hiểm cao trong xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người (đối tượng phạm tội không phân biệt nam hay nữ), khung hình phạt đối với các tội này rất nghiêm khắc.

Hậu quả của tội phạm này để lại là rất nặng nề, làm cho nạn nhân (người bị hại) không chỉ bị tổn thương về thể chất mà còn luôn sống trong sợ hãi và sự ám ảnh, xấu hổ, mặc cảm, tự ti, không muốn giao tiếp với mọi người, đặc biệt là các em gái nhỏ tuổi, đã gây ảnh hưởng xấu đến tâm, sinh lý của trẻ về lâu dài, làm tổn thương tinh thần trẻ cũng như gia đình của trẻ, gây nên sự phẫn nộ, bức xúc, trong dư luận.

Trong thời gian qua, việc đấu tranh phòng, chống của các ngành, các cấp trên địa bàn thành phố Cần Thơ nói chung và các Cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Cần Thơ nói riêng, đã tích cực điều tra, truy tố, xét xử và áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi xâm phạm tình dục phụ nữ và trẻ em, nhưng tình trạng xâm phạm tình dục đối với phụ nữ và trẻ em vẫn không giảm, mà ngày càng có chiều hướng tăng và nghiêm trọng, phức tạp hơn.

Kết quả đạt được.

Chúng tôi xin trích dẫn số liệu trong năm 2014, 2015 và 06 tháng đầu năm 2016 mà hai cấp ngành kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ thụ lý giải quyết để minh họa cho tình tội phạm Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em trên địa bàn.

* Kiểm sát điều tra: Hiếp dâm 13 vụ - 12 bị can; Hiếp dâm trẻ em 27 vụ - 25 bị can.
* Thụ lý giải quyết: Hiếp dâm 08 vụ - 09 bị can; Hiếp dâm trẻ em 24 vụ - 25 bị can.
* Kiểm sát xét xử sơ thẩm: Hiếp dâm 08 vụ - 09 bị can; Hiếp dâm trẻ em 23 vụ - 24 bị can.
Tuy nhiên trong công tác giải quyết đối với các vụ án này, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng còn gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định xuất phát từ việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, như:

Về tuổi chịu TNHS: theo quy định tại khoản 1 Điều 12 BLHS thì “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”.
Tuy nhiên, Tại khoản 1 Điều 115 BLHS quy định “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù…”. Như vậy, nếu một người 17 tuổi mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu TNHS. Điều này lại trái với quy định tại khoản 1 Điều 12 BLHS.
Đồng thời Tại các Điều 111, Điều 112 BLHS chưa quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 30% đến dưới 31%...” do vậy trong trường hợp kết luận giám định tỷ lệ thương tích hoặc tổn thất về sức khỏe của các bị hại trong vụ án xâm hại tình dục từ 30% đến dưới 31%, thì các cơ quan tiến hành tố tụng không có cơ sở pháp lý truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi phạm tội.
* Về cơ sở pháp lý:

Để có căn cứ khởi tố điều tra, truy tố đối với các hành vi xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em (về tội danh gì) thì cần phải có kết luận giám định pháp y và những vật chứng có liên quan để làm căn cứ, khẳng định ai là người thực hiện hành vi phạm tội và sẽ bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội gì trong các tội xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em (được quy định từ Điều 111 đến Điều 116 Bộ luật hình sự). Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều vụ án xâm hại tình dục đối với phụ nữ, trẻ em nhưng không đủ cơ sở để đưa người phạm tội ra trước pháp luật. Vì:

- Có một số trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho Cơ quan chức năng, từ đó đã vô tình tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết.

- Có trường hợp sau khi bị xâm hại một thời gian dài, người bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (không thu giữ được đồ vật mang dấu vết tội phạm, không thu được tinh dịch, lông tóc…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi.

Cá biệt có trường hợp, xét về hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm tuy nhiên vẫn không xử lý được do luật chưa có quy định. Điển hình như vụ án xảy ra tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Đối tượng phạm tội là nữ giới vừa chuyển giới thành nam và mang “của quý” giả khi giao cấu với nạn nhân chưa đến 16 tuổi.

Trong một số trường hợp, qua đánh giá ban đầu đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị và đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn. Trong khi đó, Kiểm sát viên trực tiếp kiểm sát hồ sơ lại chủ quan, không đánh giá hết các chứng cứ còn lại như căn cứ để xác định độ tuổi của bị can, bị hại…dẫn đến việc vụ án sau khi đã khởi tố phải thay đổi tội danh, thậm chí có trường hợp vụ án bị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại do chưa xác định được độ tuổi của bị hại.

* Về thu thập thông tin và chứng cứ ban đầu:

- Đối với các vụ án về tội Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em, thì đa số tại hiện trường xảy ra vụ án thường chỉ có đối tượng và nạn nhân, hiện trường thường xảy ra ở nơi vắng vẻ, không có nhân chứng trực tiếp. Việc tiếp nhận tin báo thường là sau khi sự việc đã xảy ra nên việc thu thập, ghi nhận những dấu vết tại hiện trường gặp rất nhiều khó khăn.
- Có một số vụ án giữa nạn nhân và đối tượng có mối quan hệ bà con, tình cảm yêu đương… nên khi sự việc xảy ra giữa các bên có sự tự thỏa thuận giải quyết với nhau về việc bồi thường, sau đó do không thống nhất được mức bồi thường nên bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội, nhưng việc khai báo sau đó không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nên việc điều tra và nhận định các chứng cứ gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Có vụ án người bị hại và đối tượng đã bỏ nhà đi, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng quá trình sống chung phát sinh mâu thuẫn thì lại đưa nhau ra tố cáo trước Cơ quan điều tra về vụ việc bị xâm hại đã xảy ra trước đó. Từ đó gây khó khăn cho quá trình điều tra, thu thập chứng cứ chứng minh vụ án.
- Một số vụ án xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em, người bị hại và gia đình của người bị hại thường có tâm lý e ngại, lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống gia đình nên nhiều người chưa mạnh dạn tố cáo hành vi phạm tội của các đối tượng đến các cơ quan chức năng, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân họ hoặc người thân khi bị xâm hại. Cũng có trường hợp trước hoặc sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo thường dùng vũ lực đe dọa hoặc sức mạnh về kinh tế để đổi lại sự im lặng phía bị hại.
- Việc tham gia khám nghiệm hiện trường của số ít Kiểm sát viên và Điều tra viên còn mang tính hình thức, chưa tỉ mỉ, không thu thập hết những dấu vết vật chứng tại hiện trường, trong khi đó có những vụ lại thu thập những vật dụng không cần thiết cho quá trình điều tra giải quyết đối với vụ án.
- Có một số vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra cấp huyện mà thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên, nhưng sau khi thụ lý, điều tra viên không đề xuất chuyển vụ án ngay. Trong khi đó, Kiểm sát viên trực tiếp thụ lý kiểm sát hồ sơ lại không kịp thời tác động Cơ quan điều tra chuyển vụ án để tiến hành điều tra theo thẩm quyền dẫn đến việc điều tra vụ án kéo dài không cần thiết. Khi hồ sơ được chuyển lên Cơ quan điều tra cấp trên thì việc thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.
* Về lời khai và độ tuổi của bị hại trong các vụ án Hiếp dâm trẻ em:
          Khó khăn phát sinh từ phía người bị hại, trong nhiều vụ án bị hại còn quá nhỏ tuổi (có những vụ án bị hại chỉ 4 hoặc 5 tuổi), do đó việc ghi nhận lời khai cũng gặp nhiều khó khăn vì bị hại còn hạn chế về nhận thức. Có khi hôm nay khai như thế này nhưng một số ngày sau đã khai khác đi về diễn biến vụ việc.
Một số vụ án mà người bị hại là trẻ em gái hoặc vụ án xâm hại tình dục mang tính chất loạn luân giữa những người cùng quan hệ huyết thống hoặc họ hàng thân thiết, thì người bị hại và gia đình họ thường có có tâm lý e ngại, không muốn vụ việc được làm lớn chuyện sợ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của gia đình và công việc làm ăn, uy tín.
          Có trường hợp người bị hại có quan hệ tình dục với nhiều người trong thời gian dài, nên khi Cơ quan điều tra tiến hành điều tra thì không có đủ chứng cứ để buộc tội tất cả các đối tượng.
Có trường hợp giữa đối tượng và người bị hại có quan hệ tình cảm yêu thương nhau, thậm chí có trường hợp gia đình của họ còn tổ chức đám cưới cho hai người, tạo điều kiện cho đối tượng tiếp tục thực hiện hành vi xâm hại tình dục với người bị hại trong thời gian dài. Khi bị Cơ quan chức năng phát hiện, thì cả hai bên còn che giấu, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án.
Trong một số vụ án, việc xác định tuổi của người bị hại gặp nhiều khó khăn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của người bị hại để xác định người bị hại có phải là trẻ em hay không. Cơ quan tiến hành tố tụng đã làm các thủ tục để tiến hành giám định tuổi của họ nhưng kết quả giám định của các cơ quan chuyên môn lại khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với tài liệu điều tra khác nên gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng, trong việc đánh giá, sử dụng tài liệu chứng cứ.
Có trường hợp bị hại không có giấy khai sinh gốc, hoặc có giấy khai sinh nhưng ngày, tháng, năm sinh không chính xác hoặc giấy khai sinh chỉ ghi năm sinh. Có vụ án cha, mẹ của người bị hại nhớ nhầm ngày sinh của người bị hại (ngày âm lịch, dương lịch) nên cấp phúc thẩm phải hủy án của cấp sơ thẩm. Cũng có trường hợp lời khai của bố, mẹ bị hại và giấy tờ, lý lịch trong hồ sơ về ngày, tháng, năm sinh giống nhau nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại thu được những chứng cứ khác với tài liệu kể trên.
Đặc biệt có trường hợp sau khi vụ án đã được đưa ra xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo. Trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm giữa bị hại, gia đình bị hại và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong. Đến khi vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm thì bị cáo, bị hại, gia đình bị hại đều thay đổi lời khai theo hướng bị cáo không phạm tội nên Hội dồng xét xử phúc thẩm buộc phải hủy án sơ thẩm, tra hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.
Nguyên nhân:
* Nguyên nhân khách quan:
Thực tế hiện nay các hành vi xâm hại tình dục là rất đa dạng, phức tạp nhưng pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể, rõ ràng như đã phân tích trên. Dẫn đến việc áp dụng pháp luật để điều chỉnh những hành vi này bị lúng túng cho các cơ quan thi hành luật pháp.
Chưa có những quy định, hướng dẫn cụ thể rõ ràng của liên ngành tư pháp Trung ương về áp dụng xử lý các hành vi theo Điều 111 và Điều 112 Bộ luật Hình sự, nên việc áp dụng pháp luật chưa được thống nhất và chính xác vào từng tình tiết cụ thể của từng hành vi vi phạm.
* Nguyên nhân chủ quan:
Do sự nhận định, đánh giá hành vi phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau nên dẫn đến việc hiểu và áp dụng những quy định của pháp luật cũng khác nhau. Hậu quả là cùng một hành vi phạm tội nhưng lại cấu thành những tội danh, điều khoản khác nhau ở những địa bàn khác nhau.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HIẾP DÂMHIẾP DÂM TRẺ EM
Thứ nhất, tiếp nhận và xử lý tin báo:
Thực tế hiện nay, việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm nói chung, tố giác, tin báo về các tội hiếp dâm nói riêng vẫn chủ yếu từ Cơ quan Công an (Công an phường, xã, Cơ quan Cảnh sát điều tra cùng cấp), các cơ quan chính quyền, cơ quan báo đài…chuyển đến cho Viện kiểm sát hoặc Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát trực tiếp theo quy định của Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNN-VKSNDTC ngày 02/8/2013. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan này để nắm đầy đủ tình hình tố giác, tin báo về tội phạm Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em. Tổ chức kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm này, để yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố điều tra, xử lý theo đúng quy định của Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, khi Viện kiểm sát nhân dân tiếp nhận tin báo đối với tội phạm này cần tiến hành theo trình tự sau:
Khi nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân có vụ Hiếp dâm hoặc Hiếp dâm trẻ em đang xảy ra ở một nơi (địa điểm) nào đó trên địa bàn, thì người nhận tin cần hỏi và ghi vào sổ thông tin sau:
Họ tên, địa chỉ, số điện thoại (nếu có) của người báo tin.
Thời gian, địa điểm xảy ra vụ việc (cần ghi rõ đường phố hoặc thuộc xã, phường, thị trấn nào trên địa bàn).
Sau khi tiếp nhận tin báo, cần báo cáo ngay cho Lãnh đạo Viện trực chỉ huy ngày hôm đó, để Lãnh đạo Viện trao đổi cùng Lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra (cùng cấp) tiến hành xác minh làm rõ, thông tin.
Đối với các tố giác, tin báo về tội phạm do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp đến Viện kiểm sát cung cấp, Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý; ghi rõ ngày, tháng, năm tiếp nhận; nội dung tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tên, tuổi và địa chỉ của người hoặc cơ quan, tổ chức cung cấp; sau đó tiến hành phân tích đánh giá bước đầu về các thông tin, tài liệu đã thu thập được để báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo đồng thời làm thủ tục chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành thẩm tra, xác minh; đồng thời lập kế hoạch theo dõi, kiểm tra kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra.
Đối với các tố giác, tin báo về tội phạm được gửi đến Viện kiểm sát bằng đơn, thư, công văn thông qua bưu điện cũng như các tố giác, tin báo về tội phạm do Viện kiểm sát trực tiếp thu thập được thông qua các phương tiện thông tin đại chúng thì Kiểm sát viên sau khi vào sổ thụ lý phải nghiên cứu nội dung sự việc để báo cáo lãnh đạo Viện xin ý kiến trước khi chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.

Thứ hai, kiểm sát điều tra đối với các vụ án Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em

Đối với tội phạm Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em thì tất cả các hành vi của đối tượng đều được thực hiện với lỗi cố ý, chủ thể phạm tội là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Đây là những loại tội phạm thuộc loại rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, người thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích nhằm thỏa mãn dục vọng cá nhân, gây dư luận xấu cho xã hội.

* Đối với tội Hiếp dâm:

Tội hiếp dâm là tội phạm cấu thành hình thức, tức là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội làm căn cứ để định tội danh và truy cứu trách nhiệm hình sự với tội phạm ngay cả khi hậu quả chưa xảy ra (thực hiện đến giai đoạn nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự ở giai đọan đó). Chẳng hạn tội hiếp dâm đang xảy ra mà bị người khác phát hiện, khiến kẻ phạm tội chưa thực hiện được hành vi giao cấu (thì vẫn cấu thành tội phạm nhưng thuộc trường hợp chưa đạt).

* Đối với tội Hiếp dâm trẻ em:

Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em dưới mười ba tuổi (có dùng vũ lực, thủ đoạn khác hay không, trái ý muốn hay được sự đồng ý của trẻ em) đều là phạm tội hiếp dâm trẻ em.
Người phạm tội có thể biết hoặc không biết người bị hại là trẻ em.
Trong trường hợp người phạm tội do không thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mà phải từ bỏ việc phạm tội như bị trẻ em chống trả quyết liệt, có nguy cơ bị phát hiện…., thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt).
·        Kiểm sát phê chuẩn khởi tố bị can trong vụ án về tội Hiếp dâmHiếp dâm trẻ em.
Đối với các vụ án về tội Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em đa số thường được bắt đầu từ việc tố giác trình báo của người bị hại, gia đình bị hại và qua các thông tin đại chúng, rất ít trường hợp bắt quả tang… Từ những thông tin đó Cơ quan điều tra mới tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ có khởi tố. Do đó, chứng cứ kết luận hành vi phạm tội của các bị can, bị khởi tố chủ yếu là từ các lời khai của những người bị hại, nhân chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ và biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối tượng và người bị hại... Đặc biệt đối với tội Hiếp dâm trẻ em thì giấy tờ chứng minh độ tuổi của bị hại là vô cùng quan trọng trong việc khởi tố.
Đặc biệt, đối với những vụ án mà có nhiều đối tượng thực hiện đối với một người mà làm nạn nhân có thai thì phải giám sát chặt chẽ không để người bị hại phá thai, nếu không phải tiến hành thu giữ, bảo quản bào thai để phục vụ công tác giám định, điều tra, giải quyết vụ án.
Những đặc điểm trên đồng thời cũng là những khó khăn trong điều tra và đánh giá chứng cứ khi xem xét phê chuẩn đối với các vụ án Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em.
Vì vậy, việc đánh giá chứng cứ phải được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 64 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
 “1. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
2. Chứng cứ được xác định bằng:
a) Vật chứng;
b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
c) Kết luận giám định;
d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.
 Như vậy, điều quan trọng nhất của chứng cứ là sự thật khách quan của vụ việc. Việc đánh giá chứng cứ phải theo đúng quy định tại Điều 66 của Bộ luật Tố tụng Hình sự “Mỗi chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định các chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự”.
Cho nên, khi cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đề nghị phê chuẩn. Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ hồ sơ đặc biệt phải đánh giá đúng về các yếu tố như sau:
-  Việc thu thập, chứng cứ có trong hồ sơ của Điều tra viên phải theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
- Không được căn cứ vào lời nhận tội duy nhất của bị can để làm chứng cứ kết tội mà cần phải xem xét, đối chiếu với các nguồn chứng cứ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như: các biên bản về hoạt động điều tra, vật chứng và các tài liệu khác....Mỗi chứng cứ thu thập được phải mang đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ đó là khách quan, có mối liên quan đến nhau và phù hợp với diễn biến của vụ án.

  - Các biên bản hoạt động điều tra như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản đối chất, nhận dạng, biên bản xác minh…của CQĐT chỉ được coi là chứng cứ khi chúng được lập theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, với nội dung mang tính khách quan, liên quan và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

·        Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.

Đối với các vụ án về tội Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em theo quy định của BLHS thì đây là loại tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, gây dư luận xấu, người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó đối với những loại tội phạm này cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án cũng như tránh cho việc bị can có điều kiện tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội hoặc phạm tội mới.

Khi áp dụng biện pháp này bắt buộc phải thực hiện thủ tục “người thuộc diện chưa được xuất cảnh” theo Thông tư số 20/2011/TT-BCA ngày 25/4/2011 của Bộ Trưởng Bộ Công an. Đồng thời cần nắm rõ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội.

·        Kiểm sát việc thu giữ tài sản, vật chứng.

Việc thu giữ tài sản, vật chứng gắn liền với việc bắt, khám xét, khám nghiệm hiện trường. Đây là việc làm rất quan trọng nhằm thu thập chứng cứ ban đầu để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và còn bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử sau này. Do vậy, việc thu giữ tang vật, vật chứng phải kịp thời, chính xác, không bỏ lọt nhưng cũng không được thu giữ tràn lan.
Trong quá trình kiểm sát việc khám xét nhà ở, đồ vật, phương tiện, khám nghiệm hiện trường,… cần nghiên cứu kỹ kết quả trong các biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, không được chủ quan bỏ qua những vật chứng như lông, tóc, quần áo, tinh dịch… có liên quan đến hành vi hiếp dâm.
Vật chứng phải được thu thập và bảo quản đúng theo trình tự Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong mọi trường hợp khi tiến hành thu giữ vật chứng cần phải lập biên bản theo mẫu quy định thống nhất được quy định tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng hình sự.
·        Đề ra yêu cầu điều tra trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về tội Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em.
Sau khi nhận được hồ sơ khởi tố vụ án cũng như bị can của Cơ quan Cảnh sát điều tra thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, xem lại tất cả các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, biên bản bắt quả tang (nếu có), đơn tố giác của người bị hại, thu giữ tài liệu đồ vật, biên bản lấy lời khai, biên bản xác minh để tìm ra những điểm nào không hợp lý, không phù hợp về thời gian, địa điểm xảy ra, vật chứng có liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội... Từ đó đề ra yêu cầu điều tra về các nội dung còn mâu thuẫn để làm sáng tỏ mâu thuẫn, đảm bảo chặt chẽ về thủ tục tố tụng, đầy đủ, chính xác về chứng cứ, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội.
Nội dung yêu cầu điều tra cần tập trung vào việc thu thập chứng cứ để xác định hành vi đó có tội hay không có tội, phạm vào tội gì (Giao cấu với trẻ em; Dâm ô với trẻ em hay Hiếp dâm trẻ em); Có bao nhiêu người đã thực hiện hành vi xâm hại đối với bị hại, giấy tờ chứng minh độ tuổi của bị hại và người phạm tội,…….
Kiểm sát viên phải thường xuyên nắm chắc được các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên vừa mới thu thập được; tổng hợp, đối chiếu, tìm ra các mâu thuẫn giữa các lời khai, những yếu tố cấu thành tội phạm mà Điều tra viên chưa làm hoặc làm chưa rõ để đề ra yêu cầu điều tra tiếp theo.
Nếu hồ sơ đã thu thập đầy đủ, thì không nhất thiết phải đề ra yêu cầu điều tra một cách chung chung, chiếu lệ, mà Kiểm sát viên và Điều tra viên được phân công vụ án cần phải có sự phối hợp xây dựng kế hoạch điều tra. Nếu thấy trong hồ sơ còn vấn đề chưa làm rõ thì Kiểm sát viên sẽ đề ra yêu cầu điều tra thêm một số vấn đề để làm rõ tình tiết vụ án (Có thể yêu cầu bằng lời nói hoặc bằng văn bản).
·        Kiểm sát hỏi cung và hỏi cung bị can:
Khi kiểm sát việc hỏi cung bị can phải đảm bảo không có bức cung, nhục hình, không mớm cung, dụ cung hoặc ép cung mà phải khách quan, ghi đúng, đầy đủ từng lời khai của bị can.
Kiểm sát viên cần chủ động bàn với Điều tra viên kế hoạch và đề ra yêu cầu hỏi cung bị can ngay sau khi khởi tố bị can để làm rõ những vấn đề liên quan đến tội phạm đã khởi tố. Nếu thấy việc hỏi cung chưa đạt yêu cầu hoặc có vấn đề mới phát sinh thì Kiểm sát viên tiếp tục nêu yêu cầu để Điều tra viên hỏi cung làm rõ. Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc hỏi cung bị can và việc lập biên bản hỏi cung bị can của Điều tra viên, bảo đảm việc hỏi cung và lập biên bản hỏi cung bị can thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 131 và Điều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong quá trình điều tra vụ án, khi có đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thống nhất, lúc nhận tội, lúc chối tội; bị can khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai bị can thì Kiểm sát viên trực tiếp gặp, hỏi cung bị can. Trước khi hỏi cung, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị để xin ý kiến chỉ đạo và thông báo trước cho Điều tra viên biết.
Sau khi kết thúc điều tra, nhận hồ sơ vụ án từ Cơ quan điều tra chuyển sang, Kiểm sát viên có thể trực tiếp hỏi cung bị can để kiểm tra tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Việc hỏi cung bị can và lập biên bản hỏi cung bị can do Kiểm sát viên tiến hành cũng phải được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 131 và Điều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự. Biên bản hỏi cung bị can của Kiểm sát viên phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu hồ sơ kiểm sát.
Đối với bị can lúc thừa nhận hành vi phạm tội, lúc thì phản cung thì khi lấy lời khai cần tiến hành ghi hình lại buổi làm việc có sự chứng kiến của luật sư và cha hoặc mẹ bị can (đối với các bị can là người chưa thành niên).

·        Kiểm sát việc thực nghiệm điều tra:

Quá trình kiểm sát điều tra nếu thấy việc khai báo của bị can và bị hại còn mâu thuẫn chưa rõ ràng trong việc thực hiện hành vi phạm tội Hiếp dâm, Hiếp dâm trẻ em cần kiểm tra, xác minh những tài liệu, những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án thì Kiểm sát viên và Điều tra viên phối hợp dựng lại hiện trường vụ án, để bị can diễn lại hành vi phạm tội và cách thức thực hiện hành vi (nếu thấy có ảnh hưởng đến bị hại thì chỉ cần cho bị can tự thực nghiệm hành vi phạm tội).
Khi dựng lại hiện trường phải có người chứng kiến, cần thiết cho bị can và những người có liên quan cùng tham gia. Trường hợp đặc biệt, Viện kiểm sát có thể tự mình dựng lại hiện trường vụ án theo trình tự thủ tục quy định tại Điều 153 Bộ luật tố Tụng hình sự. Nhằm đảm bảo tính khách quan của vụ án, thực tế diễn ra.
Mọi trường hợp dựng lại hiện trường không được xâm phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây ảnh hưởng đến sức khỏe những người tham gia việc thực nghiệm.

·        Truy tố bị can trong vụ án Hiếp dâmHiếp dâm trẻ em:

Sau khi kết thúc việc kiểm sát điều tra vụ án chuyển sang giai đoạn truy tố bị can ra Toà án để xét xử. Ngoài việc kiểm sát hồ sơ và thực hiện các bước thông thường khi tiếp nhận kết thúc vụ án hình sự, chúng ta cần xét đến các yếu tố sau:
Những chứng cứ thu thập có hợp pháp không, có đúng quy định không và thu của ai, ở đâu? Thu trong trường hợp nào? Những chứng cứ này có phù hợp với lời khai của bị hại, bị can, của người làm chứng hay không?
Đã chứng minh làm rõ tuổi của bị can, bị hại chưa?
Người phạm tội có tiền án, tiền sự hay không (các thủ tục chứng minh về tiền án, tiền sự của bị can có đúng và đầy đủ không).
          Việc truy tố cần sử dụng đúng mẫu số Mẫu 107 Theo QĐ số 07 ngày 02 tháng  01 năm 2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thể thức và kỹ thuật trình bài theo quy định tại Thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội Vụ.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trong tình hình ngày nay, thành phố Cần Thơ cùng cả nước chung tay thực hiện Công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển kinh tế, xây dựng cở sở hạ tầng, hoàn thành mục tiêu đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp. Riêng thành phố Cần Thơ với kế hoạch trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020. Vì lẽ đó chính quyền và nhân dân Cần Thơ luôn phấn đấu tập trung mọi nguồn lực để làm cho kinh tế xã hội thay đổi theo chiều hướng đi lên, đời sống của người dân ngày được nâng lên đáng kể. Nhưng mặt trái của sự phát triển đó chính là tình hình tội phạm ngày càng gia tăng. Các hành vi phạm tội diễn ra nhiều, trong mọi lĩnh vực của xã hội,
Việc nghiên cứu tội Hiếp dâm, tội Hiếp dâm trẻ em qua các vụ án là một điều cần thiết hiện nay không chỉ dưới góc độ hoạt động kiểm sát mà còn ở góc độ xã hội của nó.Qua đó làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm, đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra cũng như nâng cao việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này. 
Qua công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử các vụ án về tội Hiếp dâm trẻ em, Phòng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án hình sự về trật tự xã hội, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đưa ra một số giải pháp như sau:
- Thứ nhất, khi thụ lý, kiểm sát tố giác, tin báo tội phạm về các tội hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em cần chú trọng kiểm sát chặt độ tuổi người bị hại và đối tượng phạm tội, nếu chưa rõ thì phải trưng cầu giám định độ tuổi trước khi khởi tố. Trường hợp người bị hại làm khai sinh trễ  hạn không có giấy chứng sinh, chưa rõ ngày tháng năm sinh nhưng tự nguyện giao cấu, bị hại dưới 13 tuổi hoặc gần đủ 16 tuổi cần làm rõ độ tuổi trước khi khởi tố (thu thập khai sinh, hộ khẩu, giấy chứng sinh, học bạ, các tài liệu khác….). Trong trường hợp không có căn cứ để xác định tuổi của đối tượng, bị hại thì nhất định phải tiến hành giám định độ tuổi để làm căn cứ định tội đúng quy định của pháp luật.

Không để xảy ra trường hợp khởi tố sau phải đình chỉ điều tra vì lý do kết quả giám định thì hành vi không cấu thành tội phạm.

- Thứ hai, Khi tiếp nhận tin báo, tố giác, Kiểm sát viên cần phối hợp cùng Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường (nếu có), xác minh, thu thập chứng cứ trước khi xem xét khởi tố.
- Thứ ba, Khi tham gia khám nghiệm hiện trường cần kiểm sát chặt chẽ, thu lượm những dấu vết sinh học (lông, tóc, tinh dịch của đối tượng phạm tội và người bị hại), quần áo và đồ vật có liên quan của các bên, tránh trường hợp bỏ sót nguồn chứng cứ vật chất tại hiện trường. Kiểm sát quyết định trưng cầu giám định pháp y về tình dục của người bị hại, kết quả xem xét quần áo, dấu vết trên thân thể của đối tượng phạm tội và của người bị hại.

- Thứ tư, Không dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội. Chú ý những mâu thuẫn trong lời khai của các đối tượng phạm tội với người bị hại, người làm chứng về số lần phạm tội, thời gian, địa điểm, đặc điểm quần áo của đối tượng và người bị hại mặc, tư thế giao cấu, các hành vi trước, trong và sau giao cấu, vị trí và đồ vật xung quanh nơi giao cấu…..
- Thứ năm, khi tiến hành ghi lời khai đối tượng phạm tội, người bị hại là trẻ em, người chưa thành niên cần có luật sư bảo vệ quyền lợi, người giám hộ theo luật định. Cần có ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai của họ trước khi khởi tố nhằm đảm bảo tính khách quan trong việc lấy lời khai, tránh trường hợp bị can, bị cáo sau này phản cung, chối tội, khiếu nại lý do bức cung, mớm cung, dùng nhục hình. Viện kiểm sát trực tiếp lấy lời khai người bị tạm giữ, bị hại, nhân chứng hoặc tham gia cùng Cơ quan điều tra ngay từ đầu.
Trường hợp người bị hại bị khuyết tật bẩm sinh, hoặc người dân tộc… cần nhanh chóng trưng cầu người phiên dịch, nếu có biểu hiện tâm thần phải giám định về năng lực hành vi của họ để ra quyết định chính xác.

- Thứ sáu, trường hợp vụ án còn nhiều quan điểm khác nhau về thẩm quyền, tội danh thì cần trực tiếp báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo Viện kiểm sát cấp trên (hoặc liên ngành cấp trên). Nếu phát hiện vụ án thuộc thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên thì Kiểm sát viên được phân công thụ lý phải tác động, yêu cầu cơ quan điều tra đang thụ lý nhanh chóng ra quyết định chuyển vụ án ngay sau khi khởi tố đến Cơ quan điều tra cấp trên để tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
- Thứ bảy, trước khi phê chuẩn bắt khẩn cấp các trường hợp về các tội hiếp dâm, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp đối tượng bị bắt để ghi lời khai. Lấy lời khai bị hại để xem xét thái độ khai báo cũng như phản ứng của họ đối với vụ việc. Nội dung lấy lời khai liên quan đến sự việc phạm tội phải cụ thể, chi tiết, tránh trường hợp hỏi chung chung, sau này không thể làm nguồn chứng cứ buộc tội.

- Thứ tám, để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm xâm hại tình dục gây nên, gia đình cần quản lý con cái chặt chẽ hơn, đặc biệt là nâng cao trách nhiệm của người mẹ. Trong gia đình, người mẹ vừa là mẹ vừa là bạn với con gái, việc quan tâm, gần gũi, quản lý chặt chẽ của mẹ sẽ giúp tạo ra hàng rào bảo vệ con gái từ các cạm bẫy của tội phạm xâm hại tình dục đối với trẻ em.

Đồng thời cần tăng cường bảo vệ trẻ em bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác, phát hiện sớm, tự phòng ngừa các hoạt động xâm hại tình dục và hỗ trợ tư vấn pháp lý khi cần thiết là một biện pháp cần làm. Khi bị xâm hại tình dục, nạn nhân và gia đình phải trình báo ngay cho cơ quan Công an để được hỗ trợ tư vấn, giải quyết tránh để lọt tội phạm. Quan trọng nhất, gia đình cùng nhà trường cần giáo dục, trang bị kỹ năng sống cho các em; phổ biến những kiến thức về giới tính một cách khéo léo, lành mạnh; góp phần phòng chống việc lạm dụng tình dục trong cuộc sống.

Để khắc phục các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong giải quyết, xét xử các tội phạm xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em, cần thiết phải nghiên cứu sửa đổi quy định về các tội phạm xâm hại tình dục trong Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự theo hướng sau đây:
- Đề nghị bổ sung thêm “Tội quấy rối tình dục” vào Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người nhằm xử lý, ngăn chặn các hành vi quấy rối tình dục.
- Theo quy định tại Điều 105 và Điều 164 BLTTHS thì trường hợp đình chỉ vụ án do người yêu cầu khởi tố vụ án rút đơn yêu cầu bao gồm cả một số tội trong nhóm tội xâm hại tình dục (khoản 1 Điều 111 và khoản 1 Điều 113). Tuy nhiên, nhóm tội này xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của phụ nữ, trẻ em; ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục và gây tác động xấu đến trật tự trị an của địa phương. Do đó cần xem xét lại quy định này theo hướng người bị hại rút yêu cầu khởi tố chỉ nên được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt, không nên là căn cứ để đình chỉ vụ án để đảm bảo mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm.
 

Nguồn tin: VKSND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 40 trong 9 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 19

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 16


Hôm nayHôm nay : 3414

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 220816

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10825546


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo