01:44 ICT Chủ nhật, 08/12/2019

Tin tức



Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Bảo vệ pháp luật
Đời sống & Pháp Luật
VKSND Tối cao

Tỉ giá ( Vietcombank )

Tháng M. hai 8, 2019, 12:39 am
Code Buy Transfer Sell
AUD 15,616.94 15,711.21 15,978.40
CAD 17,286.01 17,443.00 17,739.64
CHF 23,116.17 23,279.12 23,675.02
DKK - 3,391.79 3,498.11
EUR 25,514.73 25,591.50 26,360.12
GBP 30,148.36 30,360.89 30,631.18
HKD 2,917.70 2,938.27 2,982.26
INR - 324.56 337.30
JPY 207.95 210.05 216.20
KRW 18.08 19.03 20.55
KWD - 76,198.95 79,188.88
MYR - 5,531.31 5,602.92
NOK - 2,498.18 2,576.49
RUB - 363.03 404.53
SAR - 6,165.33 6,407.25
SEK - 2,412.12 2,472.85
SGD 16,828.47 16,947.10 17,132.20
THB 748.54 748.54 779.77
USD 23,120.00 23,120.00 23,240.00

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Tăng cường kiểm sát bản án của cấp huyện nhằm thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự

Thứ tư - 13/11/2019 20:05

Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những quyền năng pháp lý quan trọng và duy nhất Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân, do vậy thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự không chỉ là quyền, mà còn là trách nhiệm của Ngành kiểm sát. Thực hiện Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 và Chỉ thị số 08/2016/CT-VKSTC của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đã triển khai nhiều biện pháp, nhằm tăng số lượng và nâng cao chất lượng các bản kháng nghị phúc thẩm hình sự. Trong kế hoạch công tác hàng năm, Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đã xác định việc tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá mà toàn ngành phải tập trung thực hiện, để công tác kháng nghị phúc thẩm được thực hiện có hiệu quả trước tiên phải tăng cường kiểm sát các bản án quyết định sơ thẩm.

 


Đ/c Nguyễn Thanh Sang, Phó Viện trưởng VKSND TP. Cần Thơ làm việc với Phòng 7
 
Để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm của Tòa án phải gửi bản án, quyết định sơ thẩm cho Viện kiểm sát. Cụ thể, tại Điều 247; 248 và Điều  255 của BLTTHS năm 2015 quy định việc giao các quyết định của Tòa án như sau “Quyết định đình chỉ, Quyết định tạm đình chỉ vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp”. Điều 262 BLTTHS năm 2015 quy định về việc giao bản án: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, bị hại, Viện kiểm sát cùng cấp, nguời bào chữa; gửi bản án cho bị cáo bị xét xử vắng mặt quy định tại điểm c khoản 2 Ðiều 290 của Bộ luật này, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Cơ quan điều tra cùng cấp, Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo làm việc, học tập; cấp bản sao bản án hoặc trích lục bản án về những phần có liên quan cho đương sự hoặc nguời đại diện của họ. 

Những vấn đề đặt ra trong công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án

 Nhiều vấn đề đặt ra về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác kiểm sát bản án, quyết định này, không ít vi phạm chưa được phát hiện kịp thời để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm, trong khi đó, tỉ lệ án phúc thẩm bị sửa, hủy do có kháng cáo của đương sự vẫn còn cao, cá biệt có trường hợp phát hiện vi phạm nhưng đã hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm, song xét tính chất, mức độ chưa đến mức kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, nên vẫn còn khoảng trống và những vi phạm này chưa được khắc phục triệt để.

Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do nhiều quy định pháp luật còn chung chung nên kháng nghị rất khó bảo vệ, do năng lực của công chức, Kiểm sát viên; hoặc do chủ quan, chưa nghiên cứu, đọc bản án, quyết định, nhất là những bản án dài; không ít Viện kiểm sát, Kiểm sát viên còn nể nang, xuôi chiều; tình trạng cấp dưới không gửi bản án, quyết định lên Viện kiểm sát cấp trên (phòng 7) hoặc có gửi nhưng chậm, không còn thời hạn để kháng nghị phúc thẩm. Mặt khác, không ít Kiểm sát viên, Kiểm tra viên nhất là những đồng chí mới bổ nhiệm hoặc mới được chuyển từ khâu công tác kiểm sát này sang khâu công tác kiểm sát khác chưa nghiên cứu nắm kỹ, chưa chú trọng thực hiện nghiêm túc công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án theo tinh thần các Chỉ thị về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm.

Nhiều phiếu kiểm sát bản án, quyết định do Kiểm sát viên tự đánh máy, rồi tự sửa chữa theo ý của mình nên dẫn đến việc ban hành không đúng mẫu, không đầy đủ các nội dung yêu cầu kiểm sát hoặc không có phần nội dung kiểm sát của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cũng ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án. Một số vụ án có tính chất phức tạp, nếu chỉ thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định rất khó phát hiện được vi phạm của Tòa án, mà phải có hồ sơ vụ án, trực tiếp tham gia kiểm sát hoặc phải có đơn khiếu nại, đề nghị của đương sự thì mới có thể nghiên cứu phát hiện được vi phạm, thiếu sót của Tòa án, cũng làm hạn chế công tác kiểm sát bản án, quyết định này, nhất là đối với Viện kiểm sát cấp phúc thẩm chỉ kiểm sát trên cơ sở bản án, quyết định sơ thẩm và phiếu kiểm sát của Viện kiểm sát cấp huyện gửi lên, mà không trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa như ở Viện kiểm sát cấp sơ thẩm.

Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và các Luật tố tụng chuyên ngành, thì Viện kiểm sát cấp cao có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền, tuy nhiên lại không quy định việc Viện kiểm sát cấp huyện gửi bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp cho Viện kiểm sát cấp cao để kiểm sát, nên cũng làm hạn chế khả năng của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao trong việc tiếp cận phát hiện vi phạm, thiếu sót để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, mà chủ yếu dựa trên báo cáo của Viện kiểm sát cấp tỉnh, cấp huyện thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của cấp sơ thẩm của Tòa án cấp huyện. Tuy nhiên, nếu quy định Viện kiểm sát cấp huyện vừa gửi bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện cho Viện kiểm sát cấp tỉnh lại vừa gửi cho Viện kiểm sát cấp cao thì lại phát sinh không ít những vấn đề cần xem xét, đánh giá.

Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này, Phòng nghiệp vụ (Phòng 7) đã tích cực tham mưu giúp Lãnh đạo Viện kiểm sát nắm, theo dõi, quản lý việc các đơn vị cấp huyện gửi bản án sơ thẩm về Viện kiểm sát nhân dân thành phố. Bên cạnh việc tích cực nghiên cứu bản án sơ thẩm, phát hiện vi phạm để tham mưu ban hành kháng nghị phúc thẩm, định kỳ hàng tháng, hàng quý, Phòng nghiệp vụ ban hành các thông báo kết quả gửi bản án, thông báo rút kinh nghiệm những trường hợp bản án có vi phạm nhưng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện không phát hiện được để thực hiện quyền năng pháp lý của mình.

Với việc áp dụng hiệu quả nhiều biện pháp công tác khác nhau, nên công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Phòng 7 đã thực sự có sự chuyển biến và đạt được những kết quả tích cực. Trong 08 tháng đầu năm 2019, Viện kiểm sát ban hành đã kháng nghị phúc thẩm 12 vụ/15 bị cáo. Nội dung kháng nghị chủ yếu là kháng nghị về áp dụng pháp luật, đường lối xét xử không nghiêm minh... Tất cả các bản kháng nghị về hình thức, bố cục đều tuân thủ đúng mẫu quy định, lập luận chặt chẽ, viện dẫn căn cứ pháp lý chính xác, thuyết phục, tính tranh tụng trong kháng nghị được đảm bảo.. Do vậy, tỷ lệ kháng nghị được phòng 7 bảo vệ đạt 100%, Tòa án chấp nhận đạt 100%. Bên cạnh việc kháng nghị phòng đã phát hiện cấp huyện vi phạm trong việc chuyển giao bản án khi hết hạn mới gởi về phòng nên đã ban hành 03 báo cáo gởi về Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Giám đốc thẩm 03 vụ án có nhiều thiếu xót trong quá trình tiến hành tố tụng.

Kháng nghị của Viện kiểm sát đã góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách thống nhất, chính xác và nghiêm minh. Chính sự quan tâm, chỉ đạo đúng mức của Lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp đối với công tác kháng nghị cùng quá trình hoạt động nghiệp vụ nghiêm túc, vận dụng đúng đắn, phù hợp các văn bản pháp luật trong thực thi nhiệm vụ của đội ngũ, cán bộ Kiểm sát viên vững vàng về nghiệp vụ và tâm huyết với ngành nghề đã góp phần đưa lại kết quả đáng ghi nhận nói trên.

Để công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự tiếp tục trở thành điểm sáng trong hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành thời gian tới, Phòng 7 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ xác định: “Kiểm sát chặt chẽ bản án, quyết định sơ thẩm án hình sự của cấp huyện để kịp thời phát hiện vi phạm, thực hiện việc kháng nghị, kiến nghị theo quy định nhằm chống oan sai bỏ lọt tội phạm”. Là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá cần tập trung thực hiện. Trong đó, Viện kiểm sát hai cấp tiếp tục thực hiện các biện pháp công tác nhằm rèn luyện kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định của Toà án, kịp thời phát hiện vi phạm để xem xét, quyết định kháng nghị. Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ và rèn luyện bản lĩnh, nâng cao trình độ, tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trong việc đề nghị áp dụng pháp luật, đánh giá vai trò, tính chất hành vi phạm tội để đề xuất đường lối xử lý phù hợp. Đồng thời thực hiện tốt công tác thông báo rút kinh nghiệm đối với Viện kiểm sát cấp huyện trong hoạt động nghiệp vụ; xây dựng chuyên đề tập hợp các vi phạm phổ biến và nghiêm trọng của Tòa án cấp sơ thẩm, xác định rõ căn cứ vi phạm để Viện kiểm sát cấp huyện có thể phát hiện và kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo kháng nghị phúc thẩm kịp thời.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị án hình sự

​Để nâng cao chất lượng công tác kháng nghị án hình sự, cần phải nắm vững cơ sở pháp lý được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và quy chế nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Điều 336 BLTTHS năm 2015 quy định “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm”. Các Điều từ 337 đến Điều 343 BLTTHS đã quy định về thời hạn, thủ tục kháng nghị phúc thẩm, trong đó Điều 337 BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn kháng nghị phúc thẩm: Đối với bản án sơ thẩm, thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày; của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 7 ngày; của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày tòa án ra quyết định.

Điều 19 Luật Tổ chức VKSND  năm 2014  quy  định: “Khi  thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng”.

Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tại các điều từ Điều 32 đến Điều 40 đã quy định căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự và hướng dẫn thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm. Việc xác định bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ đó là: Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ;  Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự;  Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.

Ngoài việc phải nắm vững cơ sở pháp lý để thực hiện quyền kháng nghị, còn đòi hỏi trong công tác chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo đơn vị cần thường xuyên chỉ đạo các Kiểm sát viên phải coi trọng công tác kháng nghị là nhiệm vụ thường xuyên, đảm bảo tăng cường công tác kháng nghị theo chỉ thị số 08/CT-VKSTC của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chú trọng chỉ đạo công tác kiểm sát bản án, kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong hoạt động xét xử để kháng nghị ngang cấp hoặc đề xuất với Viện kiểm sát cấp trên kịp thời kháng nghị, Kiên quyết kháng nghị nếu phát hiện có vi phạm và ban hành kháng nghị có căn cứ đúng pháp luật.

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác nghiệp vụ, trong đó chú trọng phương pháp đào tạo bồi dưỡng tại chỗ, xây dựng đội ngũ kiểm sát viên có đủ trình độ, có năng lực, có nhận thức đầy đủ về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của ngành trong tình hình mới. Nâng cao trình độ nghiệp cho đội ngũ Kiểm sát viên có năng lực và trách nhiệm, trang bị cho cán bộ, Kiểm sát viên có kỹ năng và thao tác nghiệp vụ linh hoạt có bản lĩnh nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tiễn.

Đối với đội ngũ Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác nghiệp vụ phải thực sự có tinh thần trách nhiệm có ý thức tự giác học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững hệ thống pháp luật có liên quan. Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự, nhất là giai đoạn tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải kịp thời phát hiện vi phạm tố tụng của Tòa án và trong hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử; sau phiên tòa, Kiểm sát viên phải trực tiếp lập Phiếu kiểm sát bản án, để nghiên cứu xem xét đối chiếu giữa kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, cùng với đề nghị trong luận tội với phần nhận định phần quyết định của bản án có phù hợp, đúng hay không, nhất là xem xét, đối chiếu nội dung bản án về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phần trách nhiệm dân sự, kịp thời phát hiện những vi phạm trong quyết định của bản án, việc xác định chính xác, kịp thời những vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án và trong nội dung bản án sẽ mang tính quyết định để báo cáo Lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Khi thực hiện việc kháng nghị phải đảm bảo nội dung kháng nghị được thực hiện đầy đủ theo Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Nội dung kháng nghị phải phân tích, làm rõ căn cứ kháng nghị như bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; áp dụng không đúng điều khoản BLHS; áp dụng không đúng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; kết luận của bản án hoặc quyết định sơ thẩm không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; xử quá nặng hoặc nhẹ, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, không phù hợp với chính sách hình sự. Kháng nghị phải phân tích rõ vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm, đối chiếu với các quy định cụ thể của điều luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Quyết định kháng nghị phải nêu rõ nội dung và phạm vi kháng nghị. Khi kháng nghị cần bảo đảm đúng thời hạn luật định.

Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự,chủ động thường xuyên tập hợp những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và bất cập trong quy định của pháp luật, đề xuất Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với các bộ, ngành liên quan có hướng dẫn, giải thích áp dụng pháp luật hoặc ban hành những văn bản hướng dẫn việc áp dụng pháp luật được thống nhất đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết kháng nghị phúc thẩm hình sự đặc biệt là sự phối hợp giữa hai ngành Kiểm sát và Toà án.

Bản chất của việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án hình sự đó là kháng nghị những phần đề nghị của Viện kiểm sát nêu trong bản luận tội không được Hội đồng xét xử chấp nhận hoặc chấp nhận một phần, cũng có thể Hội đồng xét xử có sai lầm về áp dụng pháp luật với hậu quả bản án tuyên không thuyết phục, cũng có thể bản án tuyên chưa đúng theo quy định pháp luật, nên buộc Viện kiểm sát phải kháng nghị để xem xét lại bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực. Đây là căn cứ phát sinh trình tự xét xử theo thủ tục phúc thẩm được quy định trong BLTTHS.

Đối với công tác này trong thời gian vừa qua đã được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đặc biệt quan tâm chỉ đạo “Tiếp tục tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự” tại Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày 6/4/2016; Do vậy, có thể thấy công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, được xác định là nhiệm vụ quan trọng, là một chỉ tiêu hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị nên các Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà cần xác định tầm quan trọng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, làm tốt vai trò, vị trí, trách nhiệm đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, bảo đảm việc xét xử của Toà án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, thực hiện tốt công tác kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án, phát hiện vi phạm để ban hành kháng nghị có chất lượng.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát ở cấp huyện, qua thực tiễn công tác, xin nêu một số giải pháp cơ bản để các đơn vị cùng tham khảo:

Thứ nhất, về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành về công tác kháng nghị phúc thẩm

Cùng với việc triển khai thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát, đặc biệt là quyền kháng nghị theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, BLTTHS năm 2015; Lãnh đạo đơn vị cần thường xuyên chỉ đạo các Kiểm sát viên phải coi trọng, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự. Tiếp tục tăng cường công tác kháng nghị theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Chỉ thị số 08/CT-VKSTC, tích cực chỉ đạo công tác kiểm sát bản án, kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong hoạt động xét xử để kháng nghị ngang cấp hoặc đề xuất với Viện kiểm sát cấp trên kịp thời kháng nghị, kiên quyết kháng nghị nếu phát hiện có vi phạm và ban hành kháng nghị có căn cứ đúng pháp luật, đảm bảo chặt chẽ về nội dung, đúng thể thức, đảm bảo thời hạn đúng qui định pháp luật.

Thứ hai, nâng cao chất lượng kiểm sát các hoạt động xét xử và kiểm sát bản án

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà phải kịp thời phát hiện vi phạm tố tụng trong hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử; sau phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phải trực tiếp lập Phiếu kiểm sát bản án, nhằm nghiên cứu xem xét đối chiếu giữa kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, cùng với đề nghị trong luận tội với phần nhận định phần quyết định của bản án có phù hợp, đúng không…, nhất là xem xét, đối chiếu nội dung bản án về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phần trách nhiệm dân sự…, kịp thời phát hiện những vi phạm trong quyết định của bản án, để báo cáo Lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; hoặc đề xuất những biện pháp giải quyết đối với những vi phạm trong bản án nếu không kháng nghị.

Thực hiện nghiêm túc việc gửi bản án, báo cáo kết quả xét xử sơ thẩm, cho Phòng 7 Viện kiểm sát nhân thành phố Cần Thơ. Việc Kiểm sát viên không phát hiện ra vi phạm của Toà án, không báo cáo đề xuất kháng nghị phúc thẩm mà sau đó Viện kiểm sát thành phố kháng nghị, được Toà cấp phúc thẩm chấp nhận, thì trách nhiệm trước hết thuộc về Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vụ án.

Thứ ba, tăng cường tự học tập, rút kinh nghiệm để nhận diện vi phạm:

Trong quá trình thực hành quyền công tố, kểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự cần nghiên cứu kỹ Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, ban hành kèm theo quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để nắm chắc căn cứ kháng nghị, đó là:

Việc “Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án”, cần phải xem xét, đây là trường hợp trong quá trình xét xử vụ án Hội đòng xét xử cấp sơ thẩm chưa làm rõ hết các tình tiết khách quan trong vụ án dẫn đến bản án tuyên đối với bị cáo thực hiện hành vi không đúng với điều luật của BLHS qui định. Thực tiễn xét xử cho thấy có những sai lầm sau:

Hội đồng xét xử chưa xem xét hết, kỹ các tình tiết nên có thể bản án tuyên bị cáo khác tội danh, chuyển sang tội danh nặng hoặc nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị, mà việc tuyên bố đó rõ ràng là chưa đúng pháp luật hình sự.

Ví dụ: Từ tội danh Buôn lậu chuyển sang tội danh Buôn bán hàng cấm; từ tội danh Vận chuyển tiền giả sang tội danh lưu hành tiền giả…

Đây là việc Toà án cấp sơ thẩm bỏ lọt một hoặc nhiều tình tiết trong chuỗi hành vi phạm tội của bị cáo là căn cứ để Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Ngoài ra, trong thực tiễn có bản án sơ thẩm Hội đồng xét xử tuyên bố về một số trường hợp như: Bị cáo không phạm tội, bỏ lọt người đồng phạm, bỏ lọt tội đối với bị cáo (bị cáo phạm nhiều tội hoặc phạm tội nhiều lần), những trường hợp này, về lý luận là có. Tuy nhiên nếu có xảy ra một trong số trường hợp nêu trên rõ ràng là có căn cứ, thì lỗi thuộc về Viện kiểm sát và Kiểm sát viên thực hành quyền công tố từ trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố.

Như vậy, nếu Hội đồng xét xử xử khác quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát, tất yếu dẫn đến việc quyết định hình phạt không chính xác. Tuy nhiên, cũng có trường hợp mức hình phạt đối với bị cáo đã tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và nếu có thay đổi tội danh thì cũng không thay đổi mức hình phạt, nhưng như vậy không có nghĩa là Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng, mà việc kết án khác quan điểm của Viện kiểm sát vẫn là căn cứ kháng nghị phúc thẩm.

Kết án người chưa thành niên với mức hình phạt cao bằng mức hình phạt như người đã trưởng thành, vấn đề này ít xảy ra; tuy nhiên thực tế vẫn có một số trường hợp trong quá trình xét xử Thẩm phán đồng ý với lời khai và những tình tiết của người có hành vi phạm tội dưới 18 tuổi, nhưng khi kết án không chú ý, không căn cứ theo Điều 74 BLHS năm 2009; Điều 101 BLHS năm 2015, để tính chính xác mức hình phạt áp dụng, do đó, mức án quá cao, không có lợi cho người phạm tội, đây cũng là căn cứ phát sinh quyền kháng nghị của Viện kiểm sát

Trong các trường hợp nêu trên, thể hiện qua bản án tuyên sẽ là mức án tù giam quá nặng hoặc quá nhẹ hoặc bị cáo đáng được hưởng treo thì lại cho giam, hoặc bị cáo đáng bị mức án phạt tù giam thì lại cho hưởng án treo, những trường hợp này cũng sẽ làm phát sinh căn cứ kháng nghị của Viện kiểm sát.

Căn cứ “Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự”. Trong việc áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự không đúng dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ đối với người phạm tội bao gồm (1) viện dẫn sai, thiếu, thừa điểm khoản của điều luật quy định đối với tội danh bị Viện kiểm sát truy tố; (2) áp dụng các điểm khoản tình tiết giảm nhẹ hoặc tình tiết tăng nặng đối với bị cáo áp dụng theo Điều 51,52,53,54 BLHS năm 2015; (3) Khi xét xử vụ án hình sự, Hội đồng xét xử còn có những vi phạm về quyết định các biện pháp tư pháp Điều 47, 48, 49 BLHS năm 2015 như tịch thu xung công vật và tiền bạc, giấy tờ có giá trực tiếp liên quan đến tội phạm; trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự trong vụ án hình sự (Riêng đối với việc bồi thường thiệt hại còn bao gồm cả việc áp dụng điều khoản của Bộ luật dân sự và các quy định khác không đúng cũng là căn cứ để kháng nghị phúc thẩm); vấn đề án phí; trả vật tiền giấy tờ khác cho người tham gia tố tụng trong trường hợp không liên quan đến tội phạm, việc tịch thu tiêu hủy vật chứng không đúng…

Những vi phạm nêu ở trên trong bản án, phản ánh việc áp dụng Điều khoản Bộ luật hình sự nói riêng, pháp luật nói chung tới mức bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm phải không đúng hoặc sai khi áp dụng, được nêu trong bản án làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như: Mức án quá nặng hay quá nhẹ, hay đối với việc bồi thường thiệt hại, tịch thu vật, tiền hoặc giấy tờ có giá, tiêu hủy vật chứng… không có căn cứ, sai quy định pháp luật.

Căn cứ “Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng”.

Trong thực tế xét xử do sơ xuất có trường hợp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định, không có 1 hội thẩm là giáo viên hoặc 1 cán bộ Đoàn thanh niên; ở đây do thiếu chú ý của Thẩm phán nên sai sót; còn các trường hợp khác như trong Hội đồng xét xử là người họ hàng thân thích với nhau, thành phần Hội đồng xét xử không đủ như 1 Thẩm phán, 2 Hội thẩm… hiện nay thường không có vi phạm (Tuy nhiên nếu có vi phạm này xảy ra, trách nhiệm thuộc về Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố kiểm sát xét xử đối với vụ án đó).

Về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Cho đến nay chưa có văn bản nào giải thích một cách rành mạch, phân biệt một cách rõ ràng ranh giới giữa vi phạm nghiêm trọng với vi phạm chưa tới mức nghiêm trọng mà hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự đánh giá của Lãnh đạo và Kiểm sát viên (vấn đề này có thể tham khảo vận dụng Thông tư liên tịch 01/2010 ngày 27/8/2010 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung). Tuy nhiên, việc đánh giá này không tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của người kháng nghị mà phải căn cứ vào các quy định của BLTTHS và thực tiễn công tác kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, xem xét vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là căn cứ để kháng nghị bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm chỉ là những vi phạm của Hội đồng xét xử trong xét xử sơ thẩm (bao gồm cả giai đoạn chuẩn bị xét xử), còn các vi phạm của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố không phải căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp huyện.

Những vi phạm thủ tục tố tụng ở giai đoạn chuẩn bị xét xử của Toà án cấp sơ thẩm tới mức nghiêm trọng phải kháng nghị theo thủ tục phúc phẩm thường là những vi phạm sau: Xác định sai người tham gia tố tụng; Triệu tập không đầy đủ những người cần triệu tập đến phiên toà để xét hỏi, những người tham gia tố tụng khác như: nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định… mà sự vắng mặt của họ trở ngại đến việc xác định sự thật của vụ án nhưng Hội đồng xét xử vẫn xét xử; Khi xét xử chủ toạ phiên toà không xét hỏi người tham gia tố tụng trong trường hợp lời khai của họ tại Cơ quan điều tra mâu thuẫn với lời khai của người khác.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát đối với nhưng vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng còn nhiều bất cập, do BLTTHS quy định chưa rõ ràng, lại không được giải thích hướng dẫn thống nhất; mặt khác do nhận thức của Kiểm sát viên không đầy đủ, cho nên thường không thực hiện được, có chăng Viện kiểm sát thường có kiến nghị, yêu cầu Tòa án rút kinh nghiệm.

Căn cứ: “Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ”. Trong thực tiễn ít được làm căn cứ để kháng nghị, vì để nói Hội đồng xét xử xét xử vụ án như thế nào là phiến diện, không đầy đủ trong quá trình điều tra xét hỏi tại phiện tòa là một công việc không hề đơn giản, kháng nghị là phải có căn cứ và hiện nay trong thực tiễn không phát sinh vấn đề này, bởi nếu Hội đồng xét xử không điều tra xét hỏi hết kỹ từng vấn đề thì Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm hỏi với mục đích làm sáng tỏ các tình tiết vụ án, cho nên hiện nay thường không áp dụng để kháng nghị.

Thứ tư, thường xuyên nghiên cứu kỹ các thông báo rút kinh nghiệm.

Để tiếp thu học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, học tập nhận diện được các dạng vi phạm, những căn cứ kháng nghị trong các vụ án đã xảy ra tương tự; làm cơ sở niềm tin cho việc kháng nghị những vụ án vi phạm khi các Kiểm sát viên đang thụ lý.

Tác giả bài viết: Bùi Trung Nam

Nguồn tin: VKS ND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

QUYẾT ĐỊNH SỐ 63/QĐ-VKS-TTr

Quyết định ban hành quy định về chấp hành kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ tại VKSND Tp Cần Thơ

/vkscantho/uploads/quyet-dinh-ban-hanh-quy-dinh-ve-viec-chap-hanh-ky-cuong-luat-cong-vu-tai-vks-tp-ctpdf.pdf
     
 
 


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 14

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 13


Hôm nayHôm nay : 908

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 46714

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8710712


thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử