20:38 ICT Thứ bảy, 28/11/2020

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

CHÀO MỪNG NGÀY PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Sự cần thiết để hoàn thiện quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm

Thứ sáu - 13/11/2020 16:35

Pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc lành mạnh hóa thị trường vốn, giúp các tổ chức, cá nhân trong xã hội dễ dàng tiếp cận với nguồn tín dụng. Do vậy trong những năm qua, pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm đã từng bước được hoàn thiện, đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta, cũng như trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
  1. Giai đoạn đầu thực hiện chuyển đổi nền kinh tế đến năm 1995
Trong thời kỳ này chưa có quy định pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Tình trạng này kéo dài cho đến năm cuối cùng của thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi nước ta bước vào giai đoạn đầu của quá trình thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, với việc ban hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (năm 1989), Pháp lệnh hợp đồng dân sự (năm 1991), lần đầu tiên các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng kinh tế bao gồm: thế chấp tài sản, cầm cố, bảo lãnh tài sản và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng dân sự là: thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh, đặt cọc đã được luật hoá trong văn bản của Nhà nước. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, giao dịch bảo đảm mới được tiếp cận dưới giác độ là biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và việc xử lý tài sản bảo đảm thời kỳ này vẫn nằm trong quan hệ thực hiện hợp đồng.

Hơn nữa, quy định pháp luật trong giai đoạn đầu của thời kỳ này đã hạn chế khá nhiều khả năng tham gia các giao dịch của đất đai. Theo quy định của Luật đất đai 1987 thì cơ chế quản lý đất đai được xác lập theo hình thức mệnh lệnh - hành chính, áp đặt một chiều dưới sự chỉ đạo của Nhà nước, mà không cho phép đất đai được giao dịch thông qua các hình thái giá trị. Theo quy định của Luật đất đai 1987 quy định: “Nghiêm cấm việc mua, bán, phát canh thu tô đất đai dưới mọi hình thức”[1]. Có thể nói quy định này đã làm cho đất đai không thể phát huy được hết giá trị và tiềm năng sinh lợi của mình. Sự bất cập nêu trên kéo dài cho đến khi Hiến pháp 1992 ra đời đã thừa nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; đồng thời xác định Nhà nước tiến hành giao đất, cho thuê đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và được chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật. Quy định này là tiền đề pháp lý cho các giao dịch dân sự về đất đai, đặc biệt là thế chấp QSDĐ sau này[2].

Có thể nói, cách tiếp cận của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh hợp đồng dân sự về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ còn ở phạm vi hẹp và mang tính sơ khai, một số quy định còn chưa phù hợp với sự phát triển của thị trường tín dụng hiện đại. Mặc dù vậy, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh hợp đồng dân sự cũng đã đặt nền móng quan trọng cho việc hình thành và phát triển của pháp luật về giao dịch bảo đảm tại Việt Nam, tạo tiền đề cần thiết cho sự ra đời của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm.

2. Giai đoạn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995

Với sự ra đời của BLDS năm 1995, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã được quy định đầy đủ hơn, bao gồm các quy định chung về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và các quy định cụ thể về từng biện pháp như:  cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, phạt vi phạm... đây có thể xem là một bước tiến mới của pháp luật nước ta trong cách tiếp cận về giao dịch bảo đảm. BLDS năm 1995 là văn bản mang tính định hướng chung lần đầu tiên đề cập đến vấn đề xử lý tài sản bảo đảm (Điều 259) và xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ (Điều 737), theo đó, phương thức xử lý QSDĐ duy nhất trong trường hợp bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ khi đến hạn là bên nhận thế chấp được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức đấu giá QSDĐ: “Trong trường hợp QSDĐ nông nghiệp, đất lâm nghiệp để trồng rừng đã thế chấp tại Ngân hàng Việt Nam, TCTD Việt Nam, thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức đấu giá QSDĐ để thu hồi vốn và lãi”[3]. Nội dung này tiếp tục được cụ thể hóa tại Điều 33 Quy chế thế chấp, cầm cố và bảo lãnh tài sản vay vốn ngân hàng kèm theo Quyết định số 217/QĐ-NH1 ngày 17/8/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Điểm nhấn đáng kể của pháp luật thời kỳ này là lần đầu tiên, thuật ngữ về giao dịch bảo đảm được quy phạm hoá trong một văn bản pháp quy của Nhà nước, đó chính là Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 165/1999/NĐ-CP). Theo quy định của Nghị định này, “Giao dịch bảo đảm được hiểu là hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản theo đó bên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”[4]. Từ quy định này cho thấy, Nghị định số 165/1999/NĐ-CP đã tiếp cận giao dịch bảo đảm với tư cách là một loại hình giao dịch dân sự, có danh vị độc lập là hợp đồng về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chứ không phải thuần tuý là thoả thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế như quan niệm của pháp luật thời kỳ trước đó.

Điểm nhấn đáng kể của pháp luật thời kỳ này là lần đầu tiên, thuật ngữ về giao dịch bảo đảm được quy phạm hoá trong một văn bản pháp quy của Nhà nước, đó chính là Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 165/1999/NĐ-CP). Theo quy định của Nghị định này, giao dịch bảo đảm được hiểu “là hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản theo đó bên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. (khoản 1 Điều 2). Từ quy định này cho thấy, Nghị định số 165/1999/NĐ-CP đã tiếp cận giao dịch bảo đảm với tư cách là một loại hình giao dịch dân sự, có danh vị độc lập là hợp đồng về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chứ không phải thuần tuý là thoả thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế như quan niệm của pháp luật thời kỳ trước đó. Với định nghĩa này, Nghị định số 165/1999/NĐ-CP đã cho thấy tư duy pháp luật mới về giao dịch bảo đảm.

Tuy nhiên, dấu ấn mang tính đột phá của pháp luật thời kỳ này không phải ở việc luật hoá khái niệm giao dịch bảo đảm, mà ở việc ban hành Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 về đăng ký giao dịch bảo đảm. Với việc ban hành Nghị định số 08/2000/NĐ-CP, lần đầu tiên, giao dịch bảo đảm được tiếp cận dưới giác độ đối tượng của hoạt động đăng ký với ý nghĩa công bố công khai lịch sử tồn tại của các quyền (giao dịch) cũng như chủ thể quyền (giao dịch) đối với tài sản bảo đảm. Thực tiễn đã minh chứng rằng, với cách tiếp cận mới này, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP đã ngày càng cho thấy vai trò quan trọng của nó trong việc mở rộng cơ hội tiếp cận tín dụng cho nền kinh tế nước ta. Bởi lẽ, trong môi trường kinh doanh của nền tài chính hiện đại, giao dịch bảo đảm được thiết lập trên cơ sở bên cho vay không cần trực tiếp nắm giữ tài sản, nghĩa là, bên vay vẫn giữ tài sản đã được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho bên cho vay và tiếp tục sử dụng nó, phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh của mình. Đặc điểm này của nền tài chính hiện đại có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhà đầu tư, bởi lẽ, thương gia phải có hàng trong tay thì mới có thể giới thiệu, tiếp thị hàng hoá; nhà thầu phải sử dụng thiết bị mới có thể thực hiện hợp đồng; và một nhà nông phải có máy móc để gieo trồng và thu hoạch mùa màng. Tuy nhiên, xét dưới phương diện lợi ích của bên thứ ba, “điểm yếu” của cơ chế cho vay này là, trong nhiều trường hợp bên thứ ba có thể bị lừa đảo nếu không có cơ chế minh bạch hoá thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm. Thực tế nêu trên phản ánh nhu cầu thiết lập cơ chế công khai hoá thông tin về tài sản bảo đảm và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán theo thứ tự thời gian công khai hoá; bên cạnh việc thừa nhận và bảo hộ việc dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ; và cơ chế cho vay trên cơ sở bên vay vẫn nắm giữ và kiểm soát tài sản bảo đảm. Trước bối cảnh đó, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP đã được ban hành trong vai trò là giải pháp quan trọng cho vấn đề nêu trên, thông qua việc công nhận một cách đầy đủ các quyền bảo đảm tồn tại từ trước đối với tài sản nếu được công khai hoá dưới hình thức nộp Đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký; cũng như quy định về quyền tiếp cận thông tin về tài sản bảo đảm nếu những thông tin đó được công bố công khai thông qua thiết chế đăng ký (Điều 24); và xác lập thứ tự ưu tiên giữa các giao dịch bảo đảm bằng cùng một tài sản theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 22).

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số điểm hạn chế, bất cập đang được nghiên cứu, sửa đổi, nhưng theo đánh giá chung, với sự ra đời của Nghị định số 08/2000/NĐ-CP đã cho thấy một bước tiến dài của pháp luật nước ta trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm. Thông qua việc thiết lập cơ chế đăng ký, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP đã góp phần bảo vệ chủ thể quyền đã được công khai hoá, đồng thời loại bỏ được những rủi ro pháp lý cho các giao dịch được thiết lập sau; từ đó, tạo lập, duy trì và đảm bảo một “trật tự lợi ích” chung trong đời sống kinh tế – dân sự.

3. Giai đoạn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005

Trước khi BLDS năm 2005 được ban hành và có hiệu lực thi hành, chế định về giao dịch bảo đảm của các TCTD được tách riêng và quy định riêng tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 19/12/1999 quy định về bảo đảm tiền vay của các TCTD, tồn tại song song cùng Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm chung để cùng hướng dẫn thi hành BLDS năm 1995. Việc xử lý tài sản bảo đảm tại thời điểm đó cũng được đánh giá là khá nhanh gọn và hiệu quả do được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/4/2001 của Ngân hàng Nhà nước - Bộ Tư pháp -Bộ Công an - Bộ Tài chính - Tổng cục Địa chính về việc hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các TCTD, với những quy định khá mạnh mẽ và tiên tiến trong việc trao cho các TCTD quyền tự thu giữ tài sản để xử lý dưới sự hỗ trợ của cơ quan Công an và chính quyền địa phương.

BLDS năm 2005 mặc dù chưa đưa ra được một nhóm các Điều khoản chung về nguyên tắc, phương thức, quyền xử lý tài sản của bên nhận bảo đảm nói chung nhưng cũng đã quy định những quyền rất cụ thể của bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp về xử lý tài sản cầm cố, thế chấp (từ Điều 333 đến Điều 338, Điều 351, Điều 352 và Điều 355). Nghị định số 163/2006/NĐ-CP tiếp tục khẳng định và làm rõ, chi tiết hơn về cách thức thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm bao gồm các trường hợp xử lý, phương thức xử lý, thời hạn xử lý, thời gian thông báo, xử lý một số loại tài sản đặc thù, quyền thu giữ tài sản thế chấp trong 16 Điều (toàn bộ Chương IV từ Điều 56 đến Điều 71). Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, xét một cách khách quan, thể hiện quan điểm khá mạnh mẽ của Ban soạn thảo (do Bộ Tư pháp chủ trì) nhằm thực thi đúng nguyên tắc công bằng, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của bên nhận bảo đảm, mà chủ yếu là các TCTD. Một số quy định của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP được coi là mở rộng và “vượt ra ngoài” khuôn khổ của BLDS năm 2005 về quyền xử lý tài sản bảo đảm nhưng đây là sự mở rộng hợp lý và hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

BLDS năm 2005 ra đời đã bãi bỏ hiệu lực của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế. BLDS năm 2005 đã đưa ra khái niệm bao quát hơn về giao dịch bảo đảm. Theo khoản 1 Điều 323 và khoản 1 Điều 318 BLDS năm 2005 thì giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm; bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp. Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của các quan hệ về giao dịch bảo đảm, BLDS năm 2005 quy định các giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó có sự phát triển của thị trường tín dụng, các quan hệ giao dịch bảo đảm cũng phát triển không ngừng. Hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm cũng được hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Trên cơ sở các quy định chung của BLDS năm 2005, hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm gồm những văn bản chính như sau: Nghị định số 163/2006/NĐ-CP; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm... chế định giao dịch bảo đảm không chỉ được quy định tại các Nghị định của Chính phủ điều chỉnh về vấn đề này, hiện nay, để giải quyết những khía cạnh khác nhau của quan hệ giao dịch bảo đảm, các Bộ, ngành liên quan đã phối hợp ban hành rất nhiều Thông tư và Thông tư liên tịch hướng dẫn nhiều vấn đề như: xử lý tài sản bảo đảm, đăng ký thế chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.

Cụ thể thời kỳ này, việc xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ trong thực tiễn phải tuân theo các quy đinh pháp luật như: BLDS năm 2005, Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP, Nghị định số 83/2010/NĐ-CP, Thông tư số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm.

4. Giai đoạn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015

Đến khi BLDS năm 2015 thay thế BLDS năm 2005, quy định chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản[5]. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)[6]. Thế chấp tài sản được quy định tại Tiểu mục 3, Mục 3, Chương 15, gồm 11 Điều, từ Điều 317 đến Điều 327 của BLDS năm 2015. So với BLDS năm 2005, số Điều luật giảm 4 Điều (11/15) nhưng nội dung các quy định về thế chấp tài sản trong BLDS năm 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung theo hướng đề cao nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các cam kết, thỏa thuận dân sự theo tinh thần và nguyên tắc của Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, đơn giản hóa thủ tục giao kết, thực hiện giao dịch bảo đảm nhằm tạo điều kiện tối đa cho các bên tham gia giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Việc ra đời BLDS năm 2015 đã góp phần giải quyết những vướng mắc kịp thời do những hạn chế của BLDS năm 2005 để lại, trong đó có các quy định về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm. BLDS năm 2015 ra đời đã góp phần rất nhiều trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Thực tiễn cho thấy, đăng ký giao dịch bảo đảm đã và đang ngày càng khẳng định vai trò và vị thế của nó trong môi trường kinh doanh của nền tài chính hiện đại. Vấn đề đặt ra là, để thiết chế đăng ký phát huy hết những giá trị tích cực của nó đối với đời sống kinh tế, dân sự của nước ta, cần phải có sự nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm. Bởi lẽ, pháp luật về giao dịch bảo đảm thuộc lĩnh vực pháp luật về nội dung, trong khi đó pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm lại thuộc lĩnh vực pháp luật về thủ tục, có vai trò giúp cho quyền của các bên trong quan hệ bảo đảm được công khai hoá. Điều này càng cho thấy sự cần thiết của việc tiếp cận giao dịch bảo đảm từ giác độ đối tượng của hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm.

Nhận thấy được tầm quan trọng này, việc ban hành một Nghị định mới thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 163/2006 là hết sức cần thiết, cũng như cần có sự giải thích thêm các quy định được nêu trong BLDS năm 2015 mà còn nhiều cách hiểu khác nhau, đảm bảo việc thi hành pháp luật được áp dụng một cách thống nhất.

Chính vì lý do này, trong khuôn khổ Kế hoạch hoạt động gia hạn (01/4/2019 – 31/12/2020) của Dự án “Hài hòa hóa pháp luật hiện hành và thống nhất áp dụng pháp luật hướng tới năm 2020” (Dự án JICA) ban hành kèo theo Quyết định số 1550/QĐ-BTP ngày 08/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, ngày 10/11/2020 vừa qua, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp phối hợp cùng Dự án JICA tổ chức “Tọa đàm lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” tại Thành phố Cần Thơ.

Tham dự Tọa đàm có ông Edagawa Mitsushi - Chuyên gia dài hạn của JICA Việt Nam. Về phía Việt Nam, có đại diện của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp; đại diện Toà án nhân dân Thành phố Cần Thơ, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ, Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Giao thông Vận tải Thành phố Cần Thơ, Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố Cần Thơ và chi nhánh; các tổ chức tín dụng; tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức hành nghề luật sư, một số cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp lý tại Thành phố Cần Thơ…

Tọa đàm là diễn đàn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân làm công tác nghiên cứu và thực tiễn cùng chia sẻ ý kiến đóng góp hoàn thiện những quy định của dự thảo Nghị định, bảo đảm các yêu cầu pháp lý, an toàn giao dịch, tính khả thi, tháo gỡ được những vướng mắc, khó khăn trong xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm, thông qua đó thúc đẩy các cơ hội được tiếp cận vốn, phục vụ sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt của người dân, doanh nghiêp, góp phần vào quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Tại Tọa đàm, các hà chuyên gia đã có những tham luận góp ý trực tiếp đối với một số nội dung cơ bản của dự thảo Nghị định, cũng như những vấn đề còn có quan điểm khác nhau liên quan đến dự thảo Nghị định. Bên cạnh đó, Tọa đàm cũng đã được nghe ông Edagawa Mitsushi bình luận trực tiếp đối với dự thảo Nghị định và chia sẻ kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Các tham luận và phát biểu của đại biểu tại Tọa đàm đã có nhiều trao đổi, thảo luận đối với quy định cụ thể trong dự thảo Nghị định, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến các từ ngữ cần được giải thích trong dự thảo Nghị định; các vấn đề liên quan đến xác định bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm tài sản bảo đảm trong một số trường hợp đặc biệt như sử dụng tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản của người không có năng lực hành vi đầy đủ; các vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm như: điều kiện được mua bán, được chuyển nhượng hoặc được chuyển giao đối với tài sản bảo đảm, đầu tư vào tài sản bảo đảm, quy định đối với một số loại tài sản đặc thù như quyền tài sản, chứng khoán, tài sản được bảo hiểm, hàng hóa trong kho…; về thực hiện biện pháp bảo đảm thông qua ủy quyền và một số biện pháp bảo đảm cụ thể; về hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm; về một số quy định cụ thể trong xử lý tài sản bảo đảm…

Buổi Tọa đàm đã nhận được nhiều ý kiến của các chuyên gia, đại biểu hết sức hữu ích, và sẽ là cơ sở quan trọng cho Tổ biên tập nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Nghị định để báo cáo Ban soạn thảo ban hành trong thời gian tới./.
 

[1] Điều 5 Luật đất đai năm 1987.
[2] Nguyễn Quang Hương Trà, Bàn về khái niệm giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật Việt Nam – Nhìn từ giác độ đối tượng của hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/07/08/5026-2/, [truy cập ngày 10/8/2020].
[3] Khoản 1 Điều 737 Bộ luật Dân sự năm 1995.
[4] Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP (đã được thay thế bởi Nghị định số 163/2006/NĐ-CP)
[5] Trương Thanh Đức (2019), Chín biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr 63.
[6] Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tác giả bài viết: Văn Hường

Nguồn tin: Phòng 10, VKSND TP. Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 9

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 7


Hôm nayHôm nay : 4889

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 200786

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11030615


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo