12:18 ICT Thứ năm, 27/02/2020

Tin tức



Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Bảo vệ pháp luật
Đời sống & Pháp Luật
VKSND Tối cao

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

KỶ NIỆM 90 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2020)

Quyền nhân thân là Quyền không thể chuyển giao?

Thứ sáu - 13/12/2019 16:05
Tương tự như pháp luật của các nước, pháp luật dân sự nước ta cũng thừa nhận cho các chủ thể có hai loại quyền cơ bản: quyền có tính chất tài sản và quyền không có tính chất tài sản (hay còn gọi là quyền nhân thân). Theo đó, xét về mặt lý thuyết, quyền nhân thân là quyền gắn với tư cách chủ thể, không có giá trị tài sản và không thể được chuyển giao trong giao lưu dân sự và các quyền nhân thân rất đa dạng.

 Quyền nhân thân có thể liệt kê, gồm: Thứ nhất, Quyền mang tính chất chính trị (ở đây nói đến một số quyền nhân thân có ý nghĩa chính trị được liệt kê trong nhóm các quyền nhân thân theo nghĩa của pháp luật dân sự), như: quyền xác định, xác định lại dân tộc; quyền đối với quốc tịch, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, cư trú;…Thứ hai, Quyền nhân thân là một số quyền liên quan đến gia đình, tức là các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ giữa những thành viên trong gia đình, như: quyền bình đẳng giữa vợ và chồng; quyền xác định cha, mẹ, con,…Thứ ba, cuối cùng có thể kể đến chính là các quyền nhân thân đúng nghĩa như tên gọi, gắn với cá nhân chủ thể, như: quyền thay đổi họ, tên, có quốc tịch; quyền sống, được đảm bảo tính mạng, sức khỏe; quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm; các quyền nhân thân của người sáng tạo ra tác phẩm văn chương, nghệ thuật, khoa học,…

Theo cách hiểu chung, quyền nhân thân được xem là quyền không thể chuyển giao bởi vì hầu hết các quyền nhân thân đều gắn với cá nhân một chủ thể nhất định mà chỉ có cá nhân đó mới có, chẳng hạn như: Tên gọi của người này thì không thể chuyển cho người khác sử dụng; Bản thân anh A có quyền kết hôn hợp pháp với một đối tượng nào đó thì khi làm thủ tục đăng ký kết hôn thì không thể xảy ra trường hợp anh A nhờ anh C nào đó thay mình đứng tên trong Giấy chứng nhận kết hôn được và dĩ nhiên pháp luật cũng sẽ không thừa nhận các quan hệ phát sinh nếu xảy ra tranh chấp...

 Tuy nhiên, trên thực tế, không phải tất cả các quyền nhân thân đều không thể chuyển giao. Qua các giai đoạn, pháp luật dân sự nước ta có quy định về vấn đề này, như sau: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. (Điều 24 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005. Và tiếp tục được bổ sung cụ thể, chi tiết hơn tại  khoản 1 Điều 25 BLDS 2015: Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.

Theo pháp luật hiện hành thì trường hợptrừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” đối với quyền nhân thân có thể kể đến quyền nhân thân liên quan đến quyền tác giả đối với tác phẩm. Theo đó, Quyền tác giả được hiểu là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất l­ượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.

 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về quyền nhân thân đối với tác giả như sau:  "Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây: 1. Đặt tên cho tác phẩm. 2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng. 3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm. 4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả".

  Cũng theo khoản 2 Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: "Tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19, trừ  quyền công bố tác phẩm…".

 Như vậy, Luật đã quy định rõ là tác giả không được quyền chuyển nhượng (có thể hiểu là chuyển giao quyền cho người khác) các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật này ngoại trừ quyền công bố tác phẩm. Và việc chuyển giao quyền này phải được lập thành văn bản theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự (Điều 46  Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009).

 Có thể nói, quyền nhân thân là một quyền dân sự đặc biệt. Bởi dưới gốc độ của pháp luật dân sự thì cá nhân là chủ thể chính yếu, thường xuyên, quan trọng và phổ biến của quan hệ dân sự. Sở dĩ nói quyền nhân thân là quyền dân sự đặc biệt vì các quyền này chỉ thuộc về cá nhân trong khi đó quyền tài sản có thể thuộc về những chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình). Theo đó, quyền nhân thân là quyền gần như không thể chuyển giao, trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác như bài viết vừa phân tích.

Tác giả bài viết: Bảo Anh

Nguồn tin: VKS ND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 59

Máy chủ tìm kiếm : 16

Khách viếng thăm : 43


Hôm nayHôm nay : 2232

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 143821

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9174374


thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử