14:08 ICT Thứ tư, 17/08/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 77 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 - 19/8/2022) VÀ NGÀY QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02/9/1945 - 02/9/2022)

Phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung”

Thứ tư - 29/06/2022 08:33
Vào ngày 23/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phối hợp với Tòa án nhân dân cùng cấp tổ chức phiên tòa dân sự rút kinh vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thanh M với bị đơn Đoàn Thị Q.
Quang cảnh phiên tòa

Quang cảnh phiên tòa


Ông M và bà Đoàn Thị Q tự tìm hiểu và kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên ông M xin được ly hôn với bà Q theo quy định của pháp luật. Về con chung ông M bà Q có 01 con chung tên Nguyễn Đoàn Q, sinh ngày 08 tháng 12 năm 2005, đã trên 07 tuổi nên do bé tự quyết định, người không nuôi có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Tài sản chung một căn nhà và đất tại số XXX, khu vực 3, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, yêu cầu chia đôi, nếu ai nhận nhà, đất thì phải hoàn cho bên kia giá trị tài sản. Về nợ chung tổng cộng 830.000.000 đồng, yêu cầu chia đôi, trong đó nợ bà Võ Thị Kim L 100.000.000 đồng; nợ ông Nguyễn Tiến C (mượn tiền mở nhà thuốc, tiền mua nhà) 205.000.000 đồng (125.000.000 đồng + 80.000.000 đồng); nợ bà Nguyễn Thị Hồng L 80.000.000 đồng; nợ bà Nguyễn Thị Kim Tr 80.000.000 đồng; nợ ông Nguyễn Thái S 30.000.000 đồng; nợ ông Nguyễn Trọng Q  5.000.000 đồng; nợ bà Nguyễn Thị X  100.000.000 đồng; nợ bà Ngô Thị A (mượn tiền mở nhà thuốc, tiền mua nhà) là 170.000.000 đồng (120.000.000 đồng + 50.000.000 đồng), Đoàn Quốc H. Buộc mỗi người phải trả 60.000.000 đồng.  Bị đơn Đoàn Thị Q thống nhất về hôn nhân, con chung, về tài sản chung, nhưng không đồng ý các khoản nợ mà ông M đã thiếu, chỉ đồng ý trả nợ cho bà A 590.000.000 đồng chia đôi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị A trình bày, ông M yêu cầu trả là 744.600.000 đồng, ông M xác định đây là tài sản riêng và đề nghị bà trả, bà không đồng ý vì bà không có giữ số tiền này. Ngoài ra, vợ chồng ông M và bà Q còn nợ bà tổng cộng 590.000.000 đồng. Bà yêu cầu vợ chồng Q, M trả số tiền trên.

Tại bản án sơ thẩm tuyên công nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Thanh M và bà Đoàn Thị Q. Giao cháu Nguyễn Đoàn Q (Nam), sinh ngày 08/12/2005 cho bà Q nuôi dưỡng đến trưởng thành. Ông M cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Q tròn 18 tuổi. Về tài sản chung, giao căn nhà và đất tại số XX, Khu vực 3, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ cho bà Q quản lý, sử dụng. Bà phải hoàn lại cho ông M  1/2 giá trị căn nhà và đất với số tiền là 969.500.000 đồng. Sau khi giao xong tiền cho ông M, bà Q mới có quyền chỉnh lý lại quyền sở hữu đối với nhà và đất.

Chấp nhận yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Buộc mỗi người phải trả 183.000.000 đồng, trong đó mỗi người phải trả cho bà L 50.000.000 đồng, ông C 67.500.000 đồng, bà L  23.000.000 đồng, bà Tr 40.000.000 đồng, ông Q 2.500.000 đồng. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Ngô Thị A. Buộc mỗi người phải trả 85.000.000 đồng.

 Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đoàn Quốc H. Buộc mỗi người phải trả 60.000.000 đồng.

Ngày 01/06/2021, bị đơn bà Đoàn Thị Q kháng cáo yêu cầu xem xét mức cấp dưỡng nuôi con từ 1.000.000 đồng lên 4.000.000 đồng,  trách nhiệm trả nợ chung vì bà không có ký nhận nợ. Bà Ngô Thị A yêu cầu ông M và bà Q có trách nhiệm trả cho bà số tiền là 590.000.000 đồng.
 
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã làm rõ nội dung kháng cáo của các đương sự, những căn cứ trong hồ sơ và nhận thấy bị đơn bà Đoàn Thị Q kháng cáo 03 nội dung:

Yêu cầu thứ nhất, yêu cầu nâng mức cấp dưỡng cho con từ 1.000.000 đồng/tháng lên 4.000.000 đồng/tháng. Tại phiên tòa hôm nay bà rút lại đối với yêu cầu này nên cần ghi nhận.

Yêu cầu thứ hai, bà không đồng ý trả tiền một nửa giá trị căn nhà số XX theo chứng thư thẩm định giá xác định là 1.938.952.736 đồng, mà chỉ đồng đồng ý trả theo kết quả định giá của Phòng Tài chính - Kế hoạch quận Ninh Kiều là 374.580.562 đồng, nên bà thối hoàn lại cho ông Minh 187.290.281 đồng, chứ không phải 969.500.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 5, điều 7 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 nếu vợ chồng không thỏa thuận về việc chia tài sản chung thì khi chia Tòa án dựa trên nguyên tắc “Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị có trách nhiệm trả lại ½ giá trị căn nhà theo giá thị trường là có căn cứ.

Thứ ba, đối với các khoản nợ chung chị Q cho rằng đây là các khoản nợ chị không biết vì một mình ông M ký nhận và chuyển vào tài khoản của ông M nên chị không đồng ý trả. Căn cứ vào Điều 30 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “ Vợ chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”. Do đó những khoản nợ mà ông M và bà Q thiếu trong thời kỳ hôn nhân, ông M dùng để phục vụ những nhu cầu thiết yếu cho gia đình và thời điểm ông M vay nợ bà Q không có ý kiến gì. Việc tòa án, cấp sơ thẩm xác định các khoản nợ trên là nợ chung của vợ chồng và buộc mỗi người chịu ½ là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa, chị đồng ý nợ ai nấy trả nên cần ghi nhận yêu cầu này buộc anh M có trách nhiệm trả cho Võ Thị Kim L 100.000.000 đồng; ông Nguyễn Tiến C 135.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Hồng L 46.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Kim Tr 80.000.000 đồng; ông Nguyễn Trọng Q 5.000.000 đồng (tổng cộng 366.000.000 đồng). Chị Q có trách nhiệm trả cho bà Ngô Thị A số tiền 170.000.000 đồng.

 Đối với kháng cáo của bà Ngô Thị A yêu cầu ông M và bà Q có trách nhiệm trả cho bà số tiền là 590.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà không có chứng cứ gì để chứng minh là đã cho vợ chồng ông M, bà Q mượn số tiền trên nên kháng cáo của bà không có căn cứ để chấp nhận.
Vì vậy tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS năm 2015 sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 49/2021/HN-ST ngày 02/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

 Sau khi nghị án, nhận thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận sửa một phần bản án sơ thẩm. 

Tác giả bài viết: Hầu Thị Bích Thủy

Nguồn tin: Phòng 9, VKSND TP. Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 56

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 55


Hôm nayHôm nay : 7394

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 240383

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 19761410


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo