00:56 ICT Chủ nhật, 27/09/2020

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945-19/8/2020) VÀ NGÀY QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02/9/1945 - 02/9/2020)

Phiên toà dân sự rút kinh nghiệm “ Tranh chấp Quyền sử dụng đất”

Thứ năm - 10/09/2020 17:08
Ngày 09/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phối hợp cùng Tòa án cùng cấp xét xử phiên tòa dân sự theo thủ tục rút kinh nghiệm.
Toàn cảnh phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm

Toàn cảnh phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm

Theo đơn khởi kiện của ông C: Hộ ông được Nhà nước cấp quyền sử dụng thửa đất số: 153 có diện tích 1.198m2, trong đó có 200m2 đất T và 998m2 đất LNK. Đất thuộc tờ bản đồ số 13, ấp Qui Lân 6, xã Thạnh Quới, huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ; Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ): H00255 ngày 14/9/2005, do ông đại diện đứng tên. Thửa đất trên có nguồn gốc: Trước ngày 30/4/1975 là của ông Nguyễn Văn T. Ông T không sử dụng thì nhượng lại cho ông và bà L vào năm 1973. Khi ông T nhượng đất cho ông và bà L không có làm giấy tờ gì, mà chỉ thỏa thuận miệng. Ông T là anh nuôi của ba ông. Vợ chồng ông T đã chết nhưng hiện nay có 03 người con đang sinh sống tại ấp Qui Lân 6, xã Thạnh Quới là Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Văn U. Nên vợ chồng ông đã quản lý sử dụng đất liên tục từ năm 1973 cho đến nay. Trước ngày 30/4/1975, gia đình ông chưa được cấp bằng khoán. Đến ngày 27/4/1990, gia đình ông được Nhà nước cấp giấy CNQSDĐ số: 3599. Sau này gia đình ông xin đổi và được cấp Giấy CNQSDĐ số: H00255 ngày 14/9/2005. Vào khoảng năm 2005, ông cho gia đình ông H là em ruột ông ở nhờ. Lúc cho mượn đất không có làm giấy tờ gì và cũng không có ai làm chứng. Từ khi gia đình ông H xây dựng nhà tường kiên cố cho đến nay thì gia đình ông không ai có ý kiến gì và cũng không báo chính quyền.

Nay gia đình ông cần đất để sử dụng nên khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H, bà H và các con ông H cùng chịu trách nhiệm trả lại cho hộ ông quyền sử dụng 57,3m2 đất CLN (tại vị trí B trên Bản trích đo địa chính ngày 12/9/2019), để gia đình ông xây dựng nhà. Đối với diện tích đất 157,7m2 (tại vị trí A trên Bản trích đo địa chính ngày 12/9/2019), tính từ giáp quốc lộ 80 vào giáp đất vị trí B, gia đình ông H đã sử dụng để xây dựng nhà kiên cố thì gia đình ông vẫn cho gia đình ông H ở nhờ, nhưng không được sửa chữa nhà và xây mới.
Căn cứ vào hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy Tại tờ tường trình xác định nguồn gốc đất thổ cư do ông Phạm Trường Tr khai ghi ngày 24/11/1995 đất do ông mua của ông Nguyễn Văn T năm 1968 dưới sự chứng kiến của ông Liên Nhựt Th. Đến năm 1990, Đoàn địa chính đo đạc điều chỉnh cấp Giấy CNQSDĐ lúc đó con trai lớn của ông là Phạm Hòai C có mặt ở nhà nên tự ý đứng tên khai bằng khoán. Ông Tr lập tờ tường trình cùng với tờ di chúc chia đất thổ nhằm tránh tranh chấp. Việc mua đất giữa ông Tr với ông T có sự làm chứng của ông Th và con trai ông T là ông Nguyễn Văn U ký xác nhận trong tường trình.

Tại bản phân chia đất thổ cư lập ngày 24/11/1995 ông Tr và vợ ông là bà H phân chia mảnh đất ngang 30 mét dài 100 mét (1 bên giáp ông U, phía sau giáp ông hai C) phân chia đều: ông C ngang 5 dài từ mé lộ trở vô lọt hầm, tương tự là phần đất ông H, ông S, ông Ph. Phần đất ngang thừa còn lại ông sử dụng và cho con út là Phạm Thanh T trông nom, thờ phụng ông bà. Riêng phần đất nằm sát lộ là hầm nuôi cá tra, các con ông hùn tiền lấp hầm cùng cất nhà ra riêng trên phần đất này. Nội dung có các ông Tr là ông C, ông H, ông S, ông Ph, ông T cùng ký tên và có xác nhận của UBND Thạnh Quới. Đồng thời ông C cũng thừa nhận ông có ký nhận vào tờ phân chia đất thổ cư do cha mẹ ông lập đồng thời ông đồng ý với nội dung trong đó. Việc phân chia đất của ông T và bà H đều được các con thừa nhận, phần đất nhận chuyển nhượng từ ông T có người làm chứng và được ấp xác nhận việc mua bán là có thực, đồng thời việc ông H ở trên phần đất mình được cha mẹ cho và không bị ông C phản đối và xây dựng nhà kiên cố từ năm 2001 cho đến nay. Do đó việc ông C kê khai đứng tên trên phần đất của ông Tr bà H ông mua từ ông T đã bao trùm cả lên phần đất của ông H đã được phân chia trong Tờ phân chia đất thổ cư của gia đình đã được cấp  Giấy CNQSDĐ mang tên Phạm Hòa C.

Theo ông T là em ruột của ông C và ông H thì Tờ phân chia đất thổ cư, thì diện tích đất có tranh chấp tại vị trí (B), có diện tích 57,3m2 thì cha mẹ không phân chia cho ông C và ông H. Mà cha mẹ phân chia cho ông là con trai út trông coi quản lý, làm đất chôn cất ông bà, cha mẹ, anh em khi chết và xây dựng lăng mộ. Nhưng ông thấy đất phía sau nhà ông C và H được cha mẹ phân chia cho ông cũng còn rộng, cũng như để ổn định cho việc quản lý, sử dụng đất của gia đình ông C và H thì ông đồng ý chia cho ông C một phần diện tích tại phần đất tranh chấp B, giáp với móng nhà của ông C kéo sang phía đất bà H, ngang trước và ngang sau đều 04m. Phần còn lại giáp với đất ông C được chia sang giáp đất bà H thì chia cho ông H. 

Do đó Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận 1 phần yêu cầu của ông C tại vị trí tranh chấp (B) và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tác giả bài viết: Nguyễn Tiến Lễ

Nguồn tin: VKS.H.Vĩnh Thạnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 26

Máy chủ tìm kiếm : 6

Khách viếng thăm : 20


Hôm nayHôm nay : 358

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 219237

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10568412


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo