05:15 ICT Thứ bảy, 02/07/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

TÍCH CỰC THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 62 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN (26/7/1960 - 26/7/2022)

Phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm

Thứ tư - 18/05/2022 08:48
Vào ngày 13/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phối hợp với Tòa án nhân dân cùng cấp tổ chức phiên tòa dân sự rút kinh nghiệm. Vụ án “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Duy Tr và bị đơn ông Nguyễn Thanh T.

Nội dung vụ án: Ngày 08/9/2016 ông Tr có nhận chuyển nhượng từ ông Võ Hoàng S và bà Lê Thị N phần đất có diện tích 94,lm2, tại thửa 168, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại 29B/10 hẻm 66, đường Nguyễn Truyền Thanh, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, giá chuyển nhượng là 280.000.000 đồng. Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Tr có cho ông Nguyễn Thanh T thuê lại toàn bộ nhà và đất với giá 7.000.000 đồng/tháng, hai bên có ký hợp đồng thuê vào ngày 08/9/2016. Khi ký hợp đồng, ông Tr và ông T có thỏa thuận sẽ cho ông T thời hạn 03 tháng để ông T mua lại tài sản (vì phần đất và nhà này trước đây do ông T là chủ sử dụng). Tuy nhiên, đã hết thời hạn thỏa thuận nhưng ông T vẫn không có tiền để mua lại tài sản, cũng không đóng tiền thuê nhà cho nguyên đơn. Nguyên đơn có yêu cầu ông T phải trả tiền thuê nhà, đồng thời di dời để trả lại tài sản, nhưng ông T vẫn không thực hiện. Do vậy, nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T phải trả cho nguyên đơn tiền thuê nhà từ ngày 08/01/2017 đến khi giao trả tài sản, theo giá đã ký trong hợp đồng là 7.000.000 đồng/tháng.

Bị đơn cho rằng, do cần tiền kinh doanh nên trước đây ông có vay của ông Võ Hoàng S và bà Lê Thị N số tiền 280.000.000 đồng nhưng để làm tin phải lập thêm hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất cho ông S, bà N. Sau khi vay, do không có khả năng chi trả nên qua giới thiệu, ông tiếp tục vay tiền của ông Tr để trả nợ cho ông S, bà N. Vì vậy ông S, bà N đã ký hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất này lại cho ông Tr. Đồng thời, thì ông phải ký hợp đồng thuê nhà với ông T, xem như ký cam kết nợ. Thực chất sự việc là ông cầm cố nhà cho ông Tr để vay số tiền 280.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng. Ông có đóng lãi cho ông Tr từ tháng 9/2016 đến tháng 1/2017 với số tiền tổng cộng là 56.000.000 đồng. Sau đó vì không có khả năng đóng tiếp nên ngưng đến nay. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông không đồng ý vì thực chất đây không phải là hợp đồng thuê mà chỉ là hợp đồng giả cách, ông đề nghị xem xét lại đối với các hợp đồng này vì hiện tại ông và gia đình không còn chỗ ở nào khác.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Duy Tr tiền thuê nhà theo hợp đồng thuê đã ký là: 378.000.000 đồng (ba trăm bảy mươi tám triệu đồng). Buộc ông Nguyễn Thanh T phải di dời để giao trả cho ông Nguyễn Duy Tr phần đất và nhà trên đất tại địa chỉ: 29B/10 hẻm 66, đường Nguyễn Truyền Thanh, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố cần Thơ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06704 cấp ngày 08/2/2017 cho ông Nguyễn Duy Tr).

Ngày 01/11/2021, bị đơn ông Nguyễn Thanh T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm do ông không bán nhà mà chỉ là hợp đồng vay tiền.

Ngày 15/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ kháng nghị toàn bộ bản án theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền thuê nhà 203.000.000 đồng nhưng bản án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 399.000.000 đồng và buộc bị đơn có trách nhiệm di dời tài sản để giao trả nhà và đất cho ông Nguyễn Duy Tr là vượt quá phạm vi khởi kiện, vi phạm Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý gải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ai vào tham gia tố tụng là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015 “Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện vào ngày 08/9/2016 giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa 168, tờ bản đồ số 34, diện tích 94.1m2 (40m2 ODT và 54,1m2 ) với số tiền 280.000.000 đồng. Trong hợp đồng chuyển nhượng không thể hiện chuyển nhượng phần căn nhà trên đất và nguyên đơn cũng không có chứng cứ gì để chứng minh căn nhà mà bị đơn đang ở thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn nên việc nguyên đơn ký hợp đồng thuê nhà với bị đơn cùng ngày 8/9/2016 là chưa đúng theo quy định của Luật nhà ở năm 2014 “Chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan”. Mặc dù, giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng thuê nhà nhưng bị đơn không thừa nhận mà cho rằng ký hợp đồng thuê nhà là nhằm mục đích để tính lãi đối với số tiền vay là 280.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng chứ thực tế bị đơn không có thuê nhà của nguyên đơn. Hợp đồng thuê nhà giữa ông Nguyễn Duy Tr và Nguyễn Thanh T thể hiện số tiền thuê là 7.000.000 đồng/tháng, nhưng căn cứ vào Biên bản định giá tài sản ngày 06/11/2019 thể hiện tổng giá trị căn nhà là 18.658.458 đồng, nhưng giá thuê 7.000.000 đồng là không phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương; Đối với chi phí thẩm định tài sản tranh chấp là 7.608.000 đồng nhưng Tòa án không buộc bị đơn có trách nhiệm nộp trả lại cho nguyên đơn là còn thiếu sót. Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền thuê nhà là không có căn cứ và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Vì vậy tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 45/2021/DS-ST ngày 19/10/2021 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, theo hướng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.

Sau khi nghị án, nhận thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát.

Tác giả bài viết: Tô Nguyễn Mộng Lành

Nguồn tin: Phòng 9, VKSND TP. Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 56


Hôm nayHôm nay : 3612

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 18451

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 19029910


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo