21:21 ICT Thứ sáu, 04/12/2020

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

CHÀO MỪNG NGÀY PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Phiên tòa dân sự phúc thẩm rút kinh nghiệm

Thứ hai - 29/06/2020 10:31

Ngày 25/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phối hợp với Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tổ chức phiên tòa dân sự phúc thẩm rút kinh nghiệm đối với vụ án dân sự: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn ông Bùi Thanh Tr và bị đơn bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Hồng Th.

Ngày 28/5/2015, bà T lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (trên đất có nhà) tại thửa số 209, diện tích đất 4,3m x 17m, giá chuyển nhượng là 700.000.000 đồng. Ngày 29/5/2015, ông Tr biết bà T đã chuyển phần đất này cho ông Th nên các bên đã ký hợp đồng với ông Th, số tiền đạt cọc là 50.000.000 đồng, số tiền giao tiếp tục là 600.000.000 đồng. Do chưa đủ tiền nên ông Tr còn nợ lại 5.000.000 đồng, tổng cộng các lần giao tiền cho ông Th và bà T là 645.000.000 đồng. Ông Tr đề nghị bà T, ông Th tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký, ông Tr sẽ đủ số tiền còn lại là 55.000.000 đồng.

Tuy nhiên, bà T, ông Th không đồng ý tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng vì hợp đồng chưa hoàn thiện về hình thức và nội dung. Bà T, ông Th yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Tr.

Ngày 30/11/2019, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử có nội dung chủ yếu: Chấp nhận yêu cầu một phần khởi kiện của nguyên đơn Bùi Thanh Tr khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bị đơn bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Hồng Th như sau: Ghi nhận ý kiến đại diện nguyên đơn và đại diện bị đơn tại phiên tòa hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ông Bùi Thanh Tr ký với bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Hồng Th ngày 28/5/2015 và ngày 29/5/2015; Hậu quả của hủy hợp đồng: Buộc ông Nguyễn Hồng Th phải trả lại tổng số tiền là 1.067.740.100 đồng (Một tỷ không trăm sáu mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi nghìn một trăm đồng); trong đó, số tiền đã nhận là 645.000.000 đồng, số tiền bồi thường là 422.740.100 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.

   Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 11/12/2019, bị đơn ông Th kháng cáo bản án sơ thẩm vì cho rằng, cấp sơ thẩm xét xử không công bằng, thiếu căn cứ gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã làm rõ những nội dung kháng cáo của bị đơn, đồng thời phân tích những vi phạm của cấp sơ thẩm. Theo đó, Ông Tr là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng nhà và đất, cấp sơ thẩm buộc ông Th phải trả lại tổng số tiền 1.067.740.000 đồng nhưng không buộc ông Tr giao trả nhà, đất là chưa đảm bảo quyền lợi của ông Th, chưa giải quyết triệt để vụ án. Mặt khác, tại bản tự khai của ông Tr, đơn khởi kiện ngày 03/8/2018, ông Tr xác định, giao cho bà T 20.000.000 đồng thuê dịch vụ làm giấy tờ và 30.000.000 đồng để bà T giao nhà, tổng cộng đã giao số tiền 650.000.000 đồng; tại biên bản làm việc ngày 10/10/2018 và biên bản hòa giải ngày 17/9/2019, người đại diện theo ủy quyền của ông Tr lại xác định, tổng số tiền đã giao cho ông Th, bà T là 645.000.000 đồng; tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Th, bà T chỉ thừa nhận số tiền 595.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm chưa làm rõ số tiền thực tế giao nhận giữa các bên là bao nhiêu? Bà T có nhận tiền hay không để từ đó xác định có nghĩa vụ liên đới giữa ông Th và bà T trong việc trả tiền cho ông Tr hay không? Cấp sơ thẩm dựa vào biên bản hòa giải, buộc ông Th trả cho ông Tr số tiền 645.000.000 đồng là chưa có cơ sở vững chắc, chưa đảm bảo quyền lợi của ông Th. Đồng thời, theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.3 Mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì, thiệt hại bao gồm khoản tiền mà bên nhận chuyển nhượng đã đầu tư để cải tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị công trình, tài sản…Tại đơn khởi kiện, ông Tr xác định, đã bỏ ra khoảng 25.000.000 đồng để sửa chữa nhà, tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Tr cũng xác định, đã bỏ ra khoảng 200.000.000 đồng để sửa chữa nhà, cấp sơ thẩm chưa làm rõ khoản tiền này để buộc ông Th hoàn trả là chưa đảm bảo quyền lợi của ông Tr.

 Ngoài ra, theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 28/5/2015 giữa ông Tr, bà T thể hiện, chuyển nhượng một phần nhà đất chiều ngang 4,3m - chiều dài 17m; hợp đồng chuyển nhượng ngày 29/5/2015 giữa ông Tr, ông Th thể hiện, chuyển nhượng lô đất số 209, diện tích 4,3 x 17m; Bản trích đo địa chính số 42 ngày 29/5/2019 thể hiện, ông Tr đang sử dụng phần đất có diện tích 34,1m2. Cấp sơ thẩm chưa làm rõ tại thời điểm giao nhận đất, các bên có xác định cụ thể diện tích chuyển nhượng không, hay chỉ xác định diện tích chuyển nhượng là căn nhà gắn liền với đất?

Để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, Kiểm sát viên đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: hủy bản án sơ thẩm. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử đã thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát, tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Tác giả bài viết: Kiều Thị Kim Hòa

Nguồn tin: Phòng 9, VKSND TP. Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 21

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 20


Hôm nayHôm nay : 5781

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 25495

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11068603


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo