11:16 ICT Thứ tư, 17/08/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 77 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 - 19/8/2022) VÀ NGÀY QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (02/9/1945 - 02/9/2022)

Một số thay đổi đáng chú ý trong Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi)

Thứ hai - 14/03/2016 07:39
      Ngày 20/11/2014, Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) sửa đổi đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ Tám, gồm 09 Chương, 125 Điều. Luật  BHXH kế thừa kết cấu của Luật hiện hành trên cơ sở lượt bỏ một số nội dung không còn phù hợp với thực tế và quy định những điểm mới. Luật BHXH quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHXH, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan BHXH; Quỹ BHXH; thủ tục thực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH.

      Luật BHXH (sửa đổi) đã khắc phục những tồn tại, hạn chế trong chính sách, pháp luật BHXH hiện hành cũng như những khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện nhằm mục tiêu thực hiện BHXH cho mọi người lao động. Sau đây là một số quy định đáng chú ý:

      Đối tượng tham gia bảo hiểm được mở rộng:
      Luật BHXH (sửa đổi) lần này mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc gồm: người lao động có hợp đồng lao động 01-03 tháng, người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động được cơ quan thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Chính phủ và người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Luật hóa một số nhóm đối tượng đã được thực hiện theo các quy định hiện hành: học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương.
 
      Bổ sung thêm quy định về quyền lợi của người lao động
      Về chế độ thai sản: Điều kiện hưởng thai sản gồm: lao động nữ mang thai và người mẹ nhờ mang thai hộ; lao động nam đóng BHXH có vợ sinh con; lao động nữ đã đóng BHXH từ 12 tháng trở lên khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh thì phải đóng BHXH từ đủ 3 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi nghỉ sinh con; người lao động đủ điều kiện hưởng thai sản mà chấm dứt hợp đồng lao động trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi vẫn được hưởng chế độ thai sản.

      Thời gian hưởng chế độ thai sản được quy định cụ thể là lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 6 tháng, sinh đôi trở lên cứ mỗi con thêm 1 tháng (đã thực hiện theo Luật Lao động sửa đổi). Đối với lao động nam đang đóng BHXH khi vợ sinh con được nghỉ hưởng BHXH 5 ngày làm việc; vợ sinh phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi nghỉ 7 ngày; vợ sinh đôi nghỉ 10 ngày; sinh 3 trở lên cứ thêm mỗi con nghỉ 3 ngày; sinh đôi trở lên vợ phải phẫu thuật nghỉ 14 ngày. Trong trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi. Còn trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH khi mẹ sinh con cha được trợ cấp một lần bằng hai lần mức lương cơ sở cho mỗi con.

     Về chế độ hưu trí: Về chế độ hưu trí, bổ sung quy định Lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu (tuy nhiên, nếu lương hưu thấp hơn mức lương cơ sở thì không được bù bằng mức lương cơ sở).

     Đối với trường hợp nghỉ hưu trước tuổi: Quy định lộ trình tăng tuổi hưởng lương hưu đối với nhóm bị suy giảm khả năng lao động như sau: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu với mức thấp hơn do nghỉ hưu trước tuổi quy định. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi thì nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn do nghỉ hưu trước tuổi quy định.
     Từ  ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở đi, nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi, có  thời gian đóng BHXH từ đủ 20 năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn do nghỉ hưu trước tuổi quy định.
      Đối với BHXH tự nguyện:  Bỏ quy định tuổi trần tham gia BHXH tự nguyện, bỏ quy định mức thu nhập đóng BHXH tự nguyện thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung (nay là mức lương cơ sở) để phù hợp với khả năng tham gia của người dân, quy định người tham gia có thể lựa chọn phương thức đóng BHXH tự nguyện một cách linh hoạt ngoài các phương thức đã quy định lần này cho phép có thể đóng một lần cho nhiều năm về sau hoặc một lần cho những năm còn thiếu để hưởng chế độ BHXH tự nguyện. Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người lao động tham gia BHXH tự nguyện.
      Về Bảo hiểm xã hội 1 lần: Điều kiện được hưởng BHXH 1 lần thì luật BHXH 2014 đã bỏ quy định người lao động không làm việc sau một năm được hưởng BHXH 1 lần. Đồng thời, luật quy định thêm người lao động mắc một trong các bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ trướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang AIDS  và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.
      Mức hưởng BHXH 1 lần gồm: 1,5 mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng BHXH trước năm 2014; 2 tháng mức bình quân lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi.
     Về mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần: Đối với chế độ tiền lương do nhà nước quy định. Trong đó, trường hợp tham gia BHXH trước ngày 01/01/1995 tính bình quân 5 năm cuối; trường hợp tham gia BHXH từ ngày 01/01/1995 đến ngày 31/12/2000 tính bình quân 6 năm cuối; trường hợp tham gia BHXH từ ngày 01/01/2001 đến ngày 31/12/2006 tính bình quân 8 năm cuối; trường hợp tham gia BHXH từ ngày 01/01/2007 đến ngày 31/12/2015 tính bình quân 10 năm cuối; trường hợp tham gia BHXH từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2019 tính bình quân 15 năm cuối; trường hợp tham gia BHXH từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024 tính bình quân 20 năm cuối; trường hợp tham gia BHXH từ ngày 01/01/2025 trở đi tính bình quân toàn bộ thời gian.
    Về chế độ tử tuất: Thân nhân của người chết nếu có đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng mà có nguyện vọng được hưởng trợ cấp tuất một lần, trừ trường hợp có con dưới 6 tuổi, vợ hoặc chồng mà bị suy giảm khả năng lao động 81% trở lên. Trường hợp người chết mà không có thân nhân chủ yếu theo quy định tại khoản 6 điều 3 của Luật BHXH thì trợ cấp tuất một lần được thực hiện theo quy định pháp luật về thừa kế./.

Tác giả bài viết: Bùi Quốc Tuấn

Nguồn tin: VKS ND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 30

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 29


Hôm nayHôm nay : 5794

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 238783

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 19759810


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo