22:23 ICT Thứ sáu, 28/02/2020

Tin tức



Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Bảo vệ pháp luật
Đời sống & Pháp Luật
VKSND Tối cao

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

KỶ NIỆM 90 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2020)

Một số lưu ý trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự

Thứ năm - 26/12/2019 16:46
Vừa qua, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Thông tư gồm 5 Chương với 21 Điều.

Kể từ ngày 02/12/2019 là ngày Thông tư có hiệu lực thi hành, ngoài các kỹ năng kiểm sát đã thường xuyên thực hiện, Kiểm sát viên khi thực hiên nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự còn phải lưu ý một số việc mà thông tư đã quy định.

Thứ nhất, kiểm sát việc giao các quyết định và lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can

Tại Điều 3 khoản 1 Thông tư quy định: Khi tiếp nhận người bị bắt, giao Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ, Quyết định khởi tố bị can cho bị can, người thực hiện lệnh, quyết định, tiếp nhận người bị bắt phải đọc, giải thích rõ về quyền, nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và ghi vào biên bản giao nhận. Trong biên bản phải ghi rõ ý kiến của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can về việc có nhờ người bào chữa hay không và đề nghị thông báo cho người đại diện, người thân thích để cơ quan có thẩm quyền thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 …

Trong lần đầu tiên lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, lần đầu tiên hỏi cung bị can, Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải hỏi rõ người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can có nhờ người bào chữa hay không và phải ghi ý kiến của họ vào biên bản. Nếu họ có yêu cầu nhờ người bào chữa thì Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra hướng dẫn họ viết đơn nhờ người bào chữa và thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Trường hợp họ không nhờ người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ sau khi lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, 24 giờ kể từ khi hỏi cung bị can lần đầu, Điều tra viên, Cán bộ điều tra đã lấy lời khai, hỏi cung có trách nhiệm thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.

Như vậy, trong trường hợp Cơ quan điều tra chuyển giao hồ sơ cho Viện kiểm sát phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh gia hạn tạm giữ lần 1, 2, Lệnh tạm giam, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải nghiên cứu biên bản giao Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ, Quyết định khởi tố bị can cho bị can, Điều tra viên, Cán bộ điều tra có ghi ý kiến của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can về việc có nhờ người bào chữa hay không. Nếu không là thực hiên chưa đúng quy định của Thông tư này, cần tập hợp để kiến nghị yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện đúng thông tư.

Thứ hai, kiểm sát việc lấy lời khai của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi t
 
Tại Điều 8 Thông tư quy định: Trong lần đầu tiên lấy lời khai bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích quyền, nghĩa vụ của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và hỏi họ xem có nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hay không, phải ghi ý kiến của họ vào biên bản. Trường hợp họ nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra hướng dẫn họ viết đơn nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Trường hợp họ không nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra giải thích quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được thực hiện trong suốt quá trình tiến hành tố tụng.

Khi nghiên cứu hồ sơ do Cơ quan điều tra chuyển giao cho Viện kiểm sát trong giai đoạn phê chuẩn các lệnh, quyết định hoặc quyết định phân công Kiểm sát viên kiểm sát nguồn tin báo, phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải nghiên cứu các biên bản lần đầu tiên lấy lời khai bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố Điều tra viên, Cán bộ điều tra có ghi ý kiến của họ về việc có nhờ người bào chữa hay không. Nếu không là thực hiên chưa đúng quy định của Thông tư này, cần tập hợp để kiến nghị yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện đúng thông tư.

Thứ ba, kiểm sát việc đặt câu hỏi của người bào chữa và quyền đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án của người bào chữa khi hồ sơ đã kết thúc nhưng chưa chuyển sang Viện kiểm sát

Tại khoản 3 Điều 11 Thông tư quy định: Khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, hỏi cung bị can nếu Điều tra viên đồng ý cho người bào chữa được hỏi thì phải ghi câu hỏi của người bào chữa, câu trả lời của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can vào biên bản lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, biên bản hỏi cung bị can.

Điều 16 Thông tư quy định: Việc đọc, ghi chép hoặc sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án có liên quan đến việc bào chữa của người bào chữa phải được lập biên bản ghi nhận, tài liệu giao cho người bào chữa phải có bản thống kê các tài liệu kèm theo.

Khi nghiên cứu hồ sơ do Cơ quan điều tra chuyển giao cho Viện kiểm sát trong Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự phải nghiên cứu các biên bản lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, hỏi cung bị can Điều tra viên, Cán bộ điều tra có ghi câu hỏi của người bào chữa, câu trả lời của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can vào biên bản lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, biên bản hỏi cung bị can hay không; Có lập biên bản ghi nhận, tài liệu giao cho người bào chữa đọc, ghi chép hoặc sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án hay không. Nếu không là thực hiên chưa đúng quy định của thông tư này, cần tập hợp để kiến nghị yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện đúng thông tư.

Trên đây là một số kỹ năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra khi tiến hành hoạt động điều tra vu án hình sự. Là cẩm nang không thể thiếu cho mỗi kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự./.

Tác giả bài viết: Nguyễn Tấn Cường

Nguồn tin: VKS. H. Thới Lai

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 28

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 25


Hôm nayHôm nay : 13331

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 166904

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9197457


thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử