12:21 ICT Thứ hai, 04/07/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

TÍCH CỰC THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 62 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN (26/7/1960 - 26/7/2022)

Một số bất cập về thời hạn tố tụng trong điều tra vụ án hình sự và hướng hoàn thiện

Thứ tư - 28/01/2015 15:34
      Thời hạn tố tụng trong điều tra vụ án được quy định trong BLTTHS năm 2003 trước hết nhằm giúp cơ quan THTT có đủ thời gian cần thiết thực hiện các hành vi tố tụng nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng, và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm. đồng thời không làm oan người vô tội. Ngoài ra, thời hạn trong tố tụng hợp lý còn góp phần quan trọng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân, tổ chức liên quan, ngăn ngừa hành vi lạm dụng, áp dụng tuy tiện trong quá trình giải quyết VAHS. Trong giai đoạn điều tra VAHS, thời hạn có thể chia thành nhiều nhóm khác nhau, cụ thể: Thời hạn tạm giữ, thời hạn điều tra và tạm giam để điều tra; thời hạn liên quan đến những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt; thời hạn liên quan đến giám định; thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại...

     Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thời hạn trong thủ tục điều tra VAHS nêu trên theo quy định của BLTTHS năm 2003 đã bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc cần nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, để có phương án bổ sung, hoàn thiện, cụ thể:
       Về thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra

       Về nguyên tắc, thời hạn điều tra và thời hạn gia hạn điều tra phải phù hợp với thời hạn tạm giam và gia hạn tạm giam để điều tra. Tuy nhiên, quy định hai loại thời hạn này trong BLTTHS năm 2003 là chưa thống nhất. Theo Điều 119 BLTTHS năm 2003, thời hạn tối đa (sau khi đã gia hạn) để điều tra vụ án với tính chất phức tạp về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm ANQG là 24 tháng. Trong khi đó, thời hạn tạm giam tối đa (sau khi gia hạn tạm giam) để điều tra đối với bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm ANQG là 20 tháng (Điều 120 BLTTHS năm 2003). Như vậy, thời hạn tối đa sau khi gia hạn để điều tra vụ án dài hơn thời hạn tạm giam tối đa (sau khi đã gia hạn tạm giam) để điều tra là 4 tháng. Việc quy định chưa thống nhất giữa hai loại thời hạn này có thể dẫn tới một vụ án có thể được gia hạn đến lần thứ năm nhưng việc gia hạn tạm giam để điều tra chỉ được gia hạn đến lần thứ tư. Trong trường hợp này việc điều tra vụ án vẫn được tiếp tục và CQĐT có thể sẽ gặp khó khăn cho việc điều tra như: Đối tượng bỏ trốn, đối phó, thông cung,... thay đổi lời khai. Vì vậy, cần nghiên cứu, xem xét sửa đổi BLTTHS năm 2003 theo hướng quy định thống nhất thời hạn tối đa để điều tra và thời hạn tối đa có thể tạm giam để điều tra là rất cần thiết. Cụ thể, cần quy định thời hạn điều tra (sau khi đã gia hạn) đối với các loại tội phạm, ví dụ đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm ANQG thời hạn điều tra tối đa (sau khi đã gia hạn) là 24 tháng, thì cần quy định thời hạn tạm giam để điều tra (sau khi đã gia han) cũng là 24 tháng, tương tự đối với các trường hợp khác cũng quy định như vậy nhằm thống nhất các thời hạn nêu trên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra, thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh trong vụ án hình sự.

      Về thời hạn điều tra bổ sung

      Theo khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2003 quy định về thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại, như sau: "Trong trường hợp vụ án do VKS trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá hai tháng; Nếu do Tòa án trả hồ sơ lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá một tháng. VKS hoặc Tòa án chỉ được trả hồ sơ điều tra bổ sung không quá hai lần. Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày CQĐT nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra".

     Qua thực tiễn áp dụng quy định về thời hạn điều tra bổ sung đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, không thống nhất giữa các cơ quan THTT, cụ thể:

     Thứ nhất, quy định trên có sự mâu thuẫn với Điều 119 BLTTHS năm 2003 về thời hạn chung để giải quyết vụ án, được phân theo tính chất vụ án quy định tại Điều 8 BLHS đó là: Hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng và bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Giả sử trong trường hợp VKS, Tòa án mỗi cơ quan trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần, thì có thể thấy thời hạn điều tra bổ sung, cũng như thời hạn điều tra đã vượt quá thời hạn điều tra chung theo tố tụng, cụ thể đối với tội ít nghiêm trọng thì thời hạn điều tra là 4 tháng (sau khi gia hạn điều tra), còn việc trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với tội này nếu VKS trả hồ sơ thì thời hạn điều tra là 6 tháng (sau khi đã gia hạn) chưa tính TA trả thì thời hạn 7 tháng (sau khi gia hạn). Như vậy, nếu tính chung VKS và TA trả hồ sơ điều tra bổ sung hai lần đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì thời hạn điều tra bổ sung là 10 tháng (vượt qua thời hạn điều tra chung 6 tháng), đó là chưa tính thời hạn điều tra do Hội đồng xét xử trả không có quy định cụ thể thời hạn và số lần trả hồ sơ điều tra bổ sung. Có thể thấy việc quy định như vậy là không hợp lý, không đáp ứng được yêu cầu nguyên tắc mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện chính xác, nhanh chóng, kịp thời và xử một cách công bằng (theo Điều 1 BLTTHS năm 2003). Mặt khác, thời hạn điều tra bổ sung được phân định theo thẩm quyền của cơ quan trả hồ sơ điều tra bổ sung mà không phân định theo tính chất của vụ án cũng như số lượng yêu cầu công việc yêu cầu cần điều tra bổ sung là chưa hợp lý. Vì vậy, cần phải nghiên cứu, sửa đổi quy định thời hạn điều tra bổ sung phù hợp với thời hạn điều tra chung của vụ án theo tính chất của từng vụ án cụ thể là rất cần thiết. Cụ thể, cần quy định thời hạn điều tra bổ sung sau khi đã gia hạn điều tra tối đa là bằng với thời hạn điều tra chung theo tính chất đối với từng loại tội phạm theo quy định của BLHS.

       Thứ hai, do quy định tại Điều 176 và Điều 199 BLTTHS năm 2003, quy định về quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong hai giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án nên có nhiều ý kiến cho rằng quy định tại khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2003 chỉ có ý nghĩa áp dụng đối với quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án có nghĩa là những vụ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung trước khi xét xử còn đối với yêu cầu trả hồ sơ tại phiên tòa là do Hội đồng xét xử quyết định nên không hạn chế về số lần quyết định yêu cầu điều tra bổ sung. Do đó, đã không ít vụ án trước khi xét xử thẩm phán nghiên cứu hồ sơ đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần rồi nhưng khi xét xử Hội đồng xét xử lại tiếp tục ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung. Ví dụ: Vụ án "Vườn Mít", vụ án này hai lần TANDTC hủy án sơ thẩm và phúc thẩm điều tra lại, thời gian điều tra, truy tố, xét xử kéo dài 10 năm, nhiều lần trả hồ sơ điều tra bổ sung, hủy án điều tra, truy tố, xét xử lại, trong đó Hội đồng xét xử sơ thẩm đã 2 lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng cuối cùng vẫn không có bổ sung thêm được chứng cứ buộc tội gì mới, sau nhiều lần điều tra bổ sung nhưng CQĐT và VKS tỉnh Bình Phước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tội danh Nguyễn Bá Mai tội hiếp dâm, giết người. Đến tháng 5/2011, TAND tỉnh Bình Phước tuyên bị cáo Lê Bá Mai vô tội. Tuy nhiên, tại phiên xét xử phúc thẩm lần 3, ngày 30/8/2013 TAND Tối cao tại TPHCM đã tuyên y án chung thân đối với Lê Bá Mai. Nhưng sau đó, TANDTC TPHCM đã nhận được 13 đơn kiến nghị xem xét lại vụ án này.

     Tương tự vụ án trên là vụ án Vụ án "Vườn điều". cũng do quy định của BLTTHS chưa chặt chẽ nên vụ án vẫn có thể bị hủy để điều tra xét xử lại bởi quy định tại Điều 246 BLTTHS năm 2003 hay lên cấp giám đốc thẩm cũng vẫn có thể hủy án để điều tra xét xử lại, điều này làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài vô tận, không có hồi kết và vụ án này đã kéo dài 15 năm và gây ra oan sai cho nhiều người, những vẫn chưa xác định được hung thủ thật sự của vụ án là ai. Theo cách hiểu khác lại cho rằng quy định tại khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2003 là áp dụng đối với Tòa án nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án và hạn chế số lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung của TA. Có nghĩa là trong suốt quá trình giải quyết vụ án TA cũng chỉ có thể ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần. Như vậy, quy định này đã bao hàm cả quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung trước khi xét xử và cả yêu cầu quyết định yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung tại phiên tòa. Từ những ý kiến trái ngược nhau như đã nêu trên cho thấy thực tiễn áp dụng chưa có sự thống nhất về trả hồ sơ điều tra bổ sung tại TAND, dẫn đến nhiều nơi chỉ trả hồ sơ điều tra bổ sung tối đa hai lần.

     Ngoài ra, có nhiều trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều hơn hai lần, do lập luận của Hội đồng xét xử yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung thì không hạn chế số lần, điều này chưa hợp lý. Chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung có ở hầu hết các giai đoạn tố tụng, chỉ riêng tại Tòa án có sơ thẩm, phúc thẩm và đến cả giám đốc thẩm vẫn hủy để điều tra lại. Đặt ra vấn đề là: Khi một AVHS phải tiến hành điều tra lại, xét xử lại nhiều lần, thì thời gian tạm giam bị can, bị cáo sẽ phải kéo dài thêm và khó xác định được thời gian kết thúc, nếu tính thời hạn thì thời hạn điều tra bổ sung vượt xa thời hạn điều tra vụ án. Có thể nói sự vi phạm tố tụng trong những trường hợp này cứ tồn tại một cách mặc nhiên, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức. Như vậy, BLTTHS quy định về thời hạn điều tra bổ sung chưa dự liệu hết các tình huống có thể phát sinh, dẫn đến thực tế thời hạn điều tra bổ sung vượt ra khỏi quy định của pháp luật nhưng không quy định phạm vi điều chỉnh. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung BLTTHS theo hướng quy định một thời hạn hợp lý, cần thiết cho việc giải quyết vụ án ở tất cả các giai đoạn tố tụng. Về Điều 176 và Điều 199 BLTTHS năm 2003, mặc dù không quy định về số lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng cả hai quyết định đó đều là quyết định của Tòa án nhân dân, nhưng thiết nghĩ phải chịu sự điều chỉnh của khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2003 là hợp lý hoặc quy định cụ thể số lần được trả hồ sơ điều tra cụ thể. Có thể quy định cụ thể như sau: VKS được trả hồ sơ hai lần, TA trước khi xét xử được trả hai lần, tại phiên Tòa Hội đồng xét xử được trả một lần nếu trước khi xét xử TA đã trả hồ sơ điều tra bổ sung hai lần (nếu trước khi xét xử TA đã trả một lần thì tại phiên tòa Hội đồng xét xử có thể sẽ được trả hai lần). Việc quy định số lần trả hồ sơ điều tra bổ sung như vậy nhằm tránh tình trạng không quy định cụ thể dẫn đến áp dụng không thống nhất, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, một khi không bổ sung thêm được gì trong số lần điều tra bổ sung đó với thời gian giới hạn, nếu không có chứng cứ gì mới thì TA xét xử theo những gì hiện có. Ngoài ra, việc quy định cụ thể số lần trả hồ sơ điều tra bổ sung như trên thì đồng thời quy định cụ thể thời hạn điều tra bổ sung tương ứng phù hợp tính chất của từng loại tội phạm và thời hạn này không được vượt quá thời hạn điều tra chung của VAHS.

      Mặt khác, TA khi xét xử phải chịu sự điều chỉnh được quy định tại Điều 196 BLTTHS năm 2003. Theo quy định của điều luật này, Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố. Vì vậy, nếu VKS, CQĐT sau khi điều tra bổ sung vẫn không điều tra thêm được theo yêu cầu của Tòa án thì TA vấn phải xét xử theo quyết định truy tố của VKS. Do đó, nên quy định cụ thể số lần trả hồ sơ điều tra bổ sung tại TAND. Trong trường hợp đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung với số lần quy định mà không thể bổ sung thêm theo yêu cầu, không đủ chứng cứ để kết tội, thì TA tuyên bố bị cáo không có tội mà không nhất thiết phải trả hồ sơ điều tra nhiều lần. Như vậy, sẽ tránh được tình trạng oan sai cho công dân, đồng thời xóa bỏ bất cập của việc trả hồ sơ điều tra bổ sung mà VKS, CQĐT vẫn không thể bổ sung thêm gì mới, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
 
 
 

Tác giả bài viết: Phan Thị Mộng Tuyền

Nguồn tin: VKS ND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 42

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 40


Hôm nayHôm nay : 6019

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 47114

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 19058573


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo