02:24 ICT Chủ nhật, 08/12/2019

Tin tức



Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Bảo vệ pháp luật
Đời sống & Pháp Luật
VKSND Tối cao

Tỉ giá ( Vietcombank )

Tháng M. hai 8, 2019, 1:26 am
Code Buy Transfer Sell
AUD 15,616.94 15,711.21 15,978.40
CAD 17,286.01 17,443.00 17,739.64
CHF 23,116.17 23,279.12 23,675.02
DKK - 3,391.79 3,498.11
EUR 25,514.73 25,591.50 26,360.12
GBP 30,148.36 30,360.89 30,631.18
HKD 2,917.70 2,938.27 2,982.26
INR - 324.56 337.30
JPY 207.95 210.05 216.20
KRW 18.08 19.03 20.55
KWD - 76,198.95 79,188.88
MYR - 5,531.31 5,602.92
NOK - 2,498.18 2,576.49
RUB - 363.03 404.53
SAR - 6,165.33 6,407.25
SEK - 2,412.12 2,472.85
SGD 16,828.47 16,947.10 17,132.20
THB 748.54 748.54 779.77
USD 23,120.00 23,120.00 23,240.00

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » VKSND TP Cần Thơ

CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Kết quả gần 20 năm thực hiện Luật Phòng, chống ma túy (Những khó khăn, vướng mắc và giải pháp)

Thứ tư - 13/11/2019 08:18
Qua gần 20 năm thực hiện, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn một số hạn chế, khó khăn trong thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về phòng, chống ma túy.

Thứ nhất là khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Luật phòng, chống ma túy:

Đối với công tác cai nghiện ma túy: Việc xác định tình trạng nghiện hiện nay thực tiễn có nhiều khó khăn, vướng mắc. Trước hết là từ phía người nghiện, họ không hợp tác để có đủ các chứng cứ xác định theo hướng dẫn. Bộ Y tế cũng chưa có đầy đủ quy trình xác định nghiện các loại ma túy. Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 9/7/2015 quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy nhưng mới chỉ xác định tình trạng nghiện ma túy của nhóm ma túy Opiats và dạng Amphetamine. Bên cạnh đó, việc xác định nghiện cần có thời gian tạm giữ từ 3-5 ngày để xác định hội chứng cai, nhưng Luật Xử lý vi phạm hành chính không có biện pháp để giữ đối tượng trong thời gian đó, chỉ có thể tạm giữ tối đa 24 giờ.

Về xác định người không có nơi cư trú ổn định, hiện không có tiêu chí xác định “nơi ở ổn định, thường xuyên đi lang thang”; không có chế tài quản lý người vi phạm trong thời gian xác định nơi cư trú. Theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, trường hợp người vi phạm có nơi cư trú không thuộc xã, phường, thị trấn nơi xảy ra vi phạm thì bàn giao người và biên bản vi phạm cho cơ quan Công an cấp xã nơi người vi phạm cư trú để tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định hình thức chuyển, trách nhiệm của các bên liên quan trong việc chuyển, gây khó khăn cho công tác này, đặc biệt nơi cư trú ở khác tỉnh, thành phố với nơi người đó vi phạm. Điểm c Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP quy định trường hợp chưa xác định được nơi cư trú ổn định của người vi phạm thì tiến hành xác định nơi cư trú ổn định của người đó. Trong thời gian 15 ngày làm việc nếu xác định được nơi cư trú ổn định thì chuyển người đó về nơi cư trú để lập hồ sơ; nếu không xác định được nơi cư trú ổn định thì lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nghị định không quy định trong thời gian xác định nơi cư trú (15 ngày kể từ ngày vi phạm) thì quản lý người vi phạm như thế nào.

 Thực tế khi phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì đưa vào Trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội để quản lý và tiến hành xác định nơi cư trú. Nếu xác định được nơi cư trú ổn định thì trả đối tượng về nơi cư trú để quản lý giáo dục theo quy định. Việc xác định nơi cư trú ổn định của người nghiện cũng gặp nhiều khó khăn: Người nghiện cố tình khai không đúng sự thật, khai ở nhiều nơi dẫn đến việc xác minh mất nhiều thời gian công sức. Sự phối hợp giữa các địa phương trong việc xác minh nơi cư trú của người nghiện, đặc biệt là các trường hợp ngoài tỉnh còn chưa thống nhất…

Thứ hai là sự chồng chéo, mâu thun giữa quy định của Luật phòng, chống ma túy với quy định của các Bộ luật có liên quan:

Hiện nay Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật phòng, chống ma túy năm 2000 ( Sửa đổi bổ sung năm 2008) và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đều có điều chỉnh về công tác Phòng, chống ma túy. Quá trình thực thi đã phát sinh một số mâu thuẩn như:

- Khoản 1, Điều 27, Luật phòng, chống ma túy quy định “Trường hợp người nghiện ma túy không tự nguyện cai nghiện thì áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng theo quy định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã”. Tuy nhiên Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 không quy định vấn đề này.

- Khoản 2, Điều 28 Luật phòng, chống ma túy quy định “Việc đưa người cai nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thực hiện theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh…”.Trong khi đó, Khoản 2, Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định “Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

- Khoản 1 và 2, Điều 29 Luật phòng, chống ma túy quy định “Trường hợp người nghiện ma túy từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi được áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (nơi dành riêng cho họ”. Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định “người từ đủ 18 tuổi trở lên mới áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

          Thứ ba là những vấn đề phát sinh trong thực tiễn công tác phòng, chống ma túy chưa được Luật phòng, chống ma túy quy định và cần được pháp luật điều chỉnh:

          - Điều 26, Luật Phòng, chống ma túy quy định “người nghiện và gia đình có người nghiện có trách nhiệm tự khai báo trình trạng nghiện của mình…”, nhưng trên thực tế người nghiện không hợp tác gây khó khăn cho các ngành chức năng.

          - Điều 33, Luật phòng, chống ma túy quy định “người nghiện ma túy sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy phải chịu sự quản lý sau cai nghiện từ một năm đến hai năm…”. Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các Nghị định có liên quan đến công tác cai nghiện ma túy ( Nghị định 163/2003/NĐ- CP; Nghị định 94/2010/NĐ-CP; Nghị định 111/2013/NĐ-CP) không đề cặp đến công tác quản lý sau cai nghiện.

          - Khoản 2, Điều 35, Luật phòng, chống ma túy quy định “người nào nghiện ma túy, vợ hoặc chồng của người nghiện ma túy, cha, mẹ của người chưa thành niên nghiện ma túy có trách nhiệm đóng góp kinh phí cai nghiện theo quy định của Chính phủ; trường hợp có hoàn cảnh khó khăn thì được xét giảm hoặc miễn đóng kinh phí cai nghiện”. tuy nhiên, các Bộ, Ngành Trung ương chỉ hướng dẫn miễn, giảm đối với các trường hợp là hộ nghèo,chưa hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp gia đình khó khăn.

Để thực hiện có hiệu quả hơn nửa trong công tác phòng chống ma túy trong tình hình mới tôi xin nêu một số giải pháp sau đây:

- Chính quyền địa phương cấp xã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các trường học và các cơ quan chức năng phòng, chống ma túy trên địa bàn rà soát lại từng đối tượng liên quan đến ma túy để nắm rõ, đồng thời phân loại để có biện áp giáo dục, tuyên truyền cho phù hợp với từng đối tượng, công tác này phải làm thường xuyên, liên tục. Khi phát hiện có tụ điểm ma túy phải mạnh dạn kiểm tra để triệt phá kịp thời, vừa giáo dục thuyết phục, vừa trừng trị thích đáng người mua bán, đồng thời cũng giáo dục quần chúng nhân dân ủng hộ, hưởng ứng tích cực cùng các cơ quan chức năng trong phòng, chống ma túy, tuyệt đối không để nhân dân giúp sức hay che giấu cho tội phạm ma túy. Động viên nhân dân bằng nhiều hình thức khác nhau như biểu dương, khen thưởng… để thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Có hòm thư, số điện thoại nóng để người dân tiện cung cấp thông tin, liên lạc. Lực lượng tiếp nhận tin phải nhanh chóng có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời, đừng làm mất lòng tin nhân dân. Thường xuyên đưa những người vi phạm về ma túy trên địa bàn ra họp dân để qua đó giáo dục chung về tác hại của ma túy. Củng cố lực lượng phòng, chống ma túy ở cơ sở tùy theo đặc điểm, tình hình mà bố trí số lượng, năng lực cán bộ cho phù hợp. Tuyên truyền bằng nhiều hình thức, nhiều phương tiện khác nhau như dán băng rol, áp phích, phát tờ rơi, diễu hành phát tin trên đài phát thanh, truyền hình, tổ chức cuộc thi tuyên truyền về phòng, chống ma túy…

- Sửa đổi Luật phòng, chống ma túy để đảm bảo đồng bộ, thống nhất, tránh chồng chéo giữa Luật phòng, chống ma túy và Bộ luật hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính. Bộ Công an cần phối hợp với Bộ Y tế tổ chức điều trị bằng thuốc Methadone cho người nghiện ma túy là đối tượng phạm tội hình sự đang bị tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam để họ cai nghiện.

 - Nghiên cứu, ứng dụng những loại thuốc điều trị có hiệu quả đối với những người nghiện sử dụng loại ma túy có chứa thành phần tổng hợp (như loại ma túy đá, thuốc lắc) vì hiện nay chưa có thuốc điều trị đối với người sử dụng loại ma túy này và kết hợp với phương pháp điều trị để điều trị trong cai nghiện, mà sau khi cai nghiện tốt ở trung tâm, cộng đồng hoặc nhà tạm giữ, trạm giam giam, trại giam thì khả năng không tái nghiện cao. Bên cạnh đó phải có biện pháp giáo dục, đào tạo nghề có hiệu quả hơn đối với đối tượng nghiện ma túy để kết hợp với điều trị mà sau điều trị, giáo dục thì họ có chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và ham muốn tham gia lao động, để tự cải tạo mình.

- Đối với ngành Kiểm sát phải tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án về ma túy bằng các biện pháp như: Kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ, Kiểm sát viên đủ về số lượng đảm bảo về chất lượng cho từng Viện kiểm sát quận, huyện và Phòng nghiệp vụ tùy theo hình hình thực tế về vi phạm và tội phạm  ma túy trên từng địa bàn nhằm chuyển dần sang chuyên trách. Có chế độ đãi ngộ hợp lý cho lực lượng làm công tác này ngoài chế độ chung cho cán bộ ngành kiểm sát. Bồi dưỡng kỹ năng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm đối với tội phạm về ma túy như kỹ năng phát hiện tội phạm, kỹ năng lấy cung, kỹ năng đấu tranh với loại tội phạm cứng đầu và nguy hiểm này, kỹ năng định hướng điều tra, kỹ năng xây dựng cáo trạng, kỹ năng buộc tội…cho đội ngũ Kểm sát viên. Viện kiểm sát cấp trên thông tin thường xuyên cho các Viện kiểm sát cấp dưới về tình hình ma túy, thủ đoạn phạm tội mới, những kinh nghiệm có hiệu quả được rút ra từ thực tiễn để giúp Kiểm sát viên nghiên cứu, học tập. Thông qua công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, chủ động phối hợp với cơ quan chức năng đề ra biện pháp phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc đưa ma túy vào sử dụng tại Nhà tạm giữ, Trại tạm giam; kiên quyết xử lý nghiêm đối với những trường hợp liên quan đến ma túy trong Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.   

Tác giả bài viết: Trần Thanh Sáu

Nguồn tin: VKS ND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

QUYẾT ĐỊNH SỐ 63/QĐ-VKS-TTr

Quyết định ban hành quy định về chấp hành kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ tại VKSND Tp Cần Thơ

/vkscantho/uploads/quyet-dinh-ban-hanh-quy-dinh-ve-viec-chap-hanh-ky-cuong-luat-cong-vu-tai-vks-tp-ctpdf.pdf
     
 
 


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 15


Hôm nayHôm nay : 1076

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 46882

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8710880


thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử