06:05 ICT Thứ năm, 29/10/2020

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

CHÀO MỪNG NGÀY PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Vướng mắc của pháp luật về việc đưa con dưới 14 tuổi sang nước ngoài định cư sau ly hôn

Thứ hai - 27/04/2020 16:49

Trong những năm gần đây, xu hướng học tập, làm việc, sinh sống và định cư tại nước ngoài ngày càng phổ biến và đó cũng là nguyện vọng của không ít người, trong đó có người Việt Nam. Một trong những quốc gia có tỷ lệ người Việt Nam sinh sống, làm việc, định cư nhiều hiện nay là Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Úc….số lượng tăng theo từng năm thông qua nhiều diện khác nhau, nhưng phải kể đến nhất là diện bảo lãnh người thân. Họ không chỉ bảo lãnh cha, mẹ, vợ, chồng, con cái mà còn một số đối tượng đặc biệt khác như con riêng của chồng hoặc vợ. Trường hợp phổ biến hiện nay là vợ hoặc chồng đã ly hôn đang nuôi dưỡng con chung và kết hôn với người nước ngoài. Và hiện nay, quy định của pháp luật về việc cha hoặc mẹ đưa con dưới 14 tuổi ra nước ngoài định cư sau khi ly hôn vẫn còn vướng mắc, cụ thể:

Theo pháp luật Việt Nam quy định, việc nuôi con, chăm sóc, giáo dục con được căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Vì vậy, cha hoặc mẹ khi định cư, sinh sống, làm việc tại nước ngoài nhưng đang chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, đều mong muốn đưa trẻ em ra nước ngoài để đảm bảo việc chăm sóc, giáo dục là một việc làm phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.  Đồng thời, theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 136/2007 NĐ – CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam thì chỉ cần có giấy tờ xác nhận có sự đồng ý của bố hoặc mẹ hoặc người đỡ đầu hợp pháp. Theo quy định trên thì khi vợ hoặc chồng - người trực tiếp nuôi con chung dưới 14 tuổi có quyền đưa con sang nước ngoài định cư không cần ý kiến của vợ hoặc chồng – người không trực tiếp nuôi con chung. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Và chỉ trong trường hợp,  người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Do vậy, có thể nói rằng việc đưa con ra nước ngoài sinh sống có thể bị phản đối bởi người vợ hoặc chồng trước đã ly hôn, có thể với lý do đưa trẻ ra nước ngoài gây cản trở quyền thăm nom, chăm sóc của mình và có thể dẫn đến việc khởi kiện của vợ hoặc chồng để thay đổi quyền nuôi con. Đồng thời, theo quy định của một số nước thì việc cho con xuất cảnh theo cha hoặc mẹ thì phải có giấy cam kết hoặc giấy ưng thuận….có nội dung là đồng ý cho con được xuất cảnh theo mẹ hoặc cha ra nước ngoài. Cụ thể:   

Theo Luật Di trú của Mỹ, việc cho con xuất cảnh theo cha hoặc mẹ thuộc diện bảo lãnh đoàn tụ gia đình phải thỏa mãn các điều kiện sau:

Trường hợp trẻ có cha, mẹ đầy đủ (thể hiện qua giấy khai sinh): Mẹ đem con xuất cảnh phải có sự đồng ý của cha hoặc ngược lại bằng văn bản. Văn bản này có thể lập dưới dạng: Giấy cam kết hoặc giấy ưng thuận….có nội dung là đồng ý cho con được xuất cảnh theo mẹ hoặc cha ra nước ngoài; Xác nhận chữ ký của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi đương sự cư trú hoặc chứng thực tại cơ quan công chứng.

Trường hợp vợ chồng ly hôn: Người mang con xuất cảnh ra nước ngoài phải là người được Tòa án quyết định cho trực tiếp nuôi con. Đồng thời phải có giấy cam kết hoặc giấy ưng thuận nêu trên.

Trường hợp xuất cảnh theo diện hôn nhân: Người chồng hoặc vợ mới (tức bố dượng hoặc mẹ kế) phải đồng ý bảo lãnh con riêng của vợ hoặc chồng mình.

Theo “Hướng dẫn thủ tục xin cấp thị thực đoàn tụ gia đình” của Đại sứ quán Đức quy định: Trường hợp trẻ vị thành niên đi đoàn tụ với một bên cha mẹ tại Đức phải nộp giấy cam kết có chứng thực chữ ký của bên cha mẹ kia đồng ý cho trẻ em đi sang Đức đoàn tụ và bản sao công chứng hộ chiếu hoặc Chứng minh nhân dân của bên cha mẹ ký cam kết. Bên cạnh giấy cam kết còn cần phải có giấy tờ chứng minh về “quyền nuôi con” như: Quyết định của Tòa án về quyền nuôi con, quyết định ly hôn, giấy chứng tử hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố bên cha mẹ kia mất tích.

Như vậy, theo quy định của pháp luật các nước có công dân Việt Nam nhập cư theo diện kết hôn với người nước ngoài đều quy định chung điều kiện nếu cha hoặc mẹ là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung kết hôn và dẫn con dưới 14 tuổi sang nước ngoài định cư phải có sự đồng ý của người còn lại (người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung).

Trên thực tế có những trường hợp, sau khi ly hôn vợ hoặc chồng được Tòa án giao có quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung….Tuy nhiên, sau khi ly hôn thì vợ hoặc chồng - người không trực tiếp nuôi con chung không còn sinh sống tại địa phương và không thể liên lạc được. Sau đó, vợ hoặc chồng (người trực tiếp nuôi con chung) kết hôn với người nước ngoài, và việc đưa con chung dưới 14 tuổi cùng sang nước ngoài định cư gặp khó khăn do không có văn bản chấp thuận của cha hoặc mẹ ( người không trực tiếp nuôi dưỡng), dẫn đến quyền lợi của con chung không được đảm bảo.

Qua những thông tin trên có thể thấy rằng, thậm chí cho dù người được trực tiếp nuôi con có được quyết định của Tòa án, xác định mình được “toàn quyền chăm sóc nuôi dưỡng con” thì khi xuất cảnh - thủ tục quy định vẫn phải có sự đồng ý bằng văn bản của người còn lại (người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung). Sự “đồng ý bằng văn bản” ở đây có thể hiểu là “Giấy cam kết” của người chồng hoặc vợ (cũ) có nội dung đồng ý cho phép người còn lại đem con chung đi xuất cảnh. Điều kiện có sự đồng ý của cha hoặc mẹ để con chung xuất cảnh là điều kiện mà đương đơn hay bị vướng mắc nhất, vì thông thường người cha hoặc mẹ sẽ không đồng ý ký vào giấy xác nhận để con mình xuất cảnh; hoặc không liên lạc được để cha hoặc mẹ ký giấy xác nhận. Nếu không có sự đồng ý thì buộc lòng đứa trẻ phải ở lại Việt Nam vì đây là điều kiện bắt buộc và không có ngoại lệ đối với luật pháp nước ngoài. Đây là vấn đề bất cập trong việc áp dụng pháp luật Việt Nam so với luật pháp Quốc tế, và hiện tại chưa có văn bản pháp lý nào quy định, hướng dẫn để đảm bảo quyền lợi của trẻ dưới 14 tuổi được xuất cảnh qua nước người trong trường hợp này.  

Tác giả bài viết: Đỗ Thị Hồng Nhi

Nguồn tin: Phòng 9 – VKSND TP. Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 25

Máy chủ tìm kiếm : 18

Khách viếng thăm : 7


Hôm nayHôm nay : 1330

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 213266

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10817996


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo