14:11 ICT Thứ năm, 28/05/2020

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ LẦN THỨ VII, NHIỆM KỲ 2020 - 2025

Tội phạm và những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự

Thứ hai - 03/02/2020 08:38

Bộ luật Hình sự gồm hai phần: phần thứ nhất (phần chung) là những quy định về nhiệm vụ của Bộ luật hình sự, cơ sở của trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử lý, trách nhiệm phòng ngừa đấu tranh và phòng chống tội phạm, hiệu lực, khái niệm tội phạm… và phần thứ hai (phần riêng) là quy định về một tội phạm cụ thể, xác định các dấu hiệu cơ bản, các dấu hiệu đặc trưng của từng tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm gây ra… từ những quy định để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định tội danh khi có tội phạm xảy ra. Như vậy, phần chung và phần các tội phạm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bởi vì, việc định tội danh để truy cứu trách nhiệm hình sự một con người cụ thể thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên các quy định tại phần chung và các dấu hiệu cấu thành tại phần riêng.

Thực tế giải quyết các vụ án hình sự có thể thấy mối quan hệ giữa phần chung và phần các tội phạm như: Một là, trường hợp hành vi chưa thực hiện hết các mô tả trong điều luật cấu thành tội phạm, hai là, có trường hợp chỉ ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, ba là, phạm tội chưa đạt, bốn là, trường hợp tội phạm do nhiều người cùng cố ý thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì song song với việc áp dụng pháp luật của phần tội phạm còn phải dựa trên các chế định của phần chung để giải quyết. Đồng thời, để đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội còn phải lưu ý đến hiệu lực về không gian và thời gian được quy định tại phần chung của Bộ luật hình sự.

Ngoài mối quan hệ giữa phần chung và phần các tội phạm của Bộ luật hình sự thì việc định tội danh cũng không thể tách rời những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bởi vì, Bộ luật hình sự quy định những cơ sở pháp lý một cách trực tiếp, còn Bộ luật tố tụng hình sự quy định những cơ sở pháp lý gián tiếp. Trong đó, quy định cụ thể tại Điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự như sau:

1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

3. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

5. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

6. Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. 

Ngoài ra, Bộ luật tố tụng hình sự cũng còn có quy định khác giúp các cơ quan tiến hành tố tụng cho việc định tội danh một cách chính xác như: quy định về chứng minh và chứng cứ (Chương VI), quy định về các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (Chương VII), đồng thời còn quy định về trình tự thủ tục khởi tố (Chương IX), điều tra (Chương X), truy tố (Chương XVIII).

Bên cạnh Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự, còn có các Nghị định, Nghị quyết, Thông tư cũng đóng vai trò gián tiếp trong việc định tội, cụ thể, tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT- VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 đã làm rõ những quy định của Điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Chứng cứ để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là chứng cứ để xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính và các trường hợp khác theo quy định của luật);

2. Chứng cứ để chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào;

3. Chứng cứ để chứng minh “ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định một chủ thể cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội đó;

4. Chứng cứ để chứng minh “có lỗi hay không có lỗi” là chứng cứ xác định chủ thể có lỗi hoặc không có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; nếu có lỗi thì là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý do quá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Bộ luật Hình sự;

5. Chứng cứ để chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình sự không” là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự chưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không; nếu có thì mắc bệnh đó vào thời gian nào, trong giai đoạn tố tụng nào;

6. Chứng cứ để chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” là chứng cứ xác định chủ thể thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì; mục đích, động cơ phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay là tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt;

7. Chứng cứ để chứng minh “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định bị can, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 51, Điều 84 của Bộ luật Hình sự hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52, Điều 85 của Bộ luật Hình sự;

8. Chứng cứ để chứng minh “đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định lý lịch của bị can, bị cáo; nếu bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại thì phải chứng minh tên, địa chỉ và những vấn đề khác có liên quan đến địa vị pháp lý và hoạt động của pháp nhân thương mại;

9. Chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” là chứng cứ để đánh giá tính chất, mức độ thiệt hại, hậu quả về vật chất, phi vật chất do hành vi phạm tội gây ra;

10. Chứng cứ để chứng minh “nguyên nhân và điều kiện phạm tội” là chứng cứ xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan, điều kiện cụ thể dẫn đến việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội;

11. Chứng cứ để chứng minh “những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” là chứng cứ chứng minh những vấn đề được quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 59, 88 và các điều luật khác của Bộ luật Hình sự;

12. Chứng cứ khác để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giải quyết vụ án, như: chứng cứ để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi; chứng cứ để chứng minh vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trong trường hợp đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức; chứng cứ để xác định trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo và những vấn đề khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Như vậy, để đảm bảo đúng việc truy cứu trách nhiệm hình sự thì cần phải xác định chính xác hành vi nguy hiểm cho xã hội, sự phù hợp và mối quan hệ giữa hành vi với diễn biến đã diễn ra trên thực tế, sau đó, đối chiếu với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể để xác định tội phạm. Về khoa học pháp lý, các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm 04 nhóm dấu hiệu: Nhóm dấu hiệu về mặt khách thể, nhóm dấu hiệu về mặt chủ thể, nhóm dấu hiệu về mặt khách quan, nhóm dấu hiệu về mặt chủ quan.

Ngoài ra, để đảm bảo đúng việc truy cứu trách nhiệm hình sự một cách chính xác thì còn phải lưu ý đến phần chung của Bộ luật hình sự quy định các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự tại Điều 20 - Sự kiện bất ngờ, Điều 21 - Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, Điều 22 - Phòng vệ chính đáng, Điều 23 - Tình thế cấp thiết, Điều 24 - Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, Điều 25 - Rủi ro trong nghiên cứu thử nghiệm, Điều 26 - Thi hành mệnh lệnh của chỉ huy hay của cấp trên của Bộ luật hình sự. Như vậy, từ trên những cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, các Nghị định, Nghị quyết, Thông tư sẽ đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tác giả bài viết: Lê Thị Kim Loan

Nguồn tin: VKS ND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 38

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 37


Hôm nayHôm nay : 4611

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 193796

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9670158


thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử