15:18 ICT Thứ năm, 11/08/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

TÍCH CỰC THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 62 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN (26/7/1960 - 26/7/2022)

Tòa án có áp dụng tình tiết giảm nhẹ khi bị cáo từ chối?

Thứ hai - 14/11/2016 15:40
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự và được cụ thể hóa tại nhiều văn bản dưới luật. Được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là điều mong muốn của hầu hết những người phạm tội, thế nhưng có trường hợp tại phiên tòa bị cáo từ chối, vậy tình tiết này có được áp dụng cho bị cáo hay không?
      Bị cáo Nguyễn Văn A bị xét xử về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trong quá điều tra gia đình của bị cáo đã tự nguyện dùng tiền để khắc phục hậu quả mặc dù không có sự tác động của bị cáo, và theo quy định của pháp luật thì bị cáo sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 - Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo yêu cầu tòa án không áp dụng tình tiết này vì cho rằng hành vi của mình không cấu thành tội phạm.

      Đối chiếu với quy định tại tiểu mục 1.1 mục 1Nghị quyết số 01 ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự, thì tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” được xem là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

      đ) Bị cáo không có tài sản để bồi thường nhưng đã tích cực tác động, đề nghị cha, mẹ hoặc người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và những người này đã thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra;

      e) Bị cáo không có trách nhiệm sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra (ví dụ việc bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ) nhưng đã tự nguyện dùng tiền, tài sản của mình để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả hoặc đã tích cực tác động, đề nghị cha, mẹ hoặc người khác sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả (nếu bị cáo không có tài sản để bồi thường) và những người này đã thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

     Đối với các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm đ và e tiểu mục 1.1 mục 1 này mà bị cáo không có việc tác động, đề nghị cha, mẹ hoặc người khác sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, nếu những người này đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 của BLHS.

      Như vậy, trong trường hợp này, bị cáo sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

      Có quan điểm cho rằng, khi bị cáo đã yêu cầu tòa án không áp dụng tình tiết giảm nhẹ nghĩa là bị cáo đã tự từ bỏ quyền lợi mà mình được hưởng và tòa án cũng nên chấp nhận để phù hợp theo mong muốn của bị cáo, đây cũng là một quyền của bị cáo cần được tôn trọng. Điều này còn thể hiện sự tôn trọng các chuẩn mực đạo đức và tính nghiêm minh của pháp luật, vì khi các cơ quan tiến hành tố tụng đã có đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo vẫn khăng khăng chối tội thể hiện bị cáo không hề ăn năn hối cải thì bị cáo không xứng đáng để được giảm nhẹ.

      Quan điểm khác cho rằng bị cáo có quyền cho mình là vô tội, trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh, đây là tình tiết giảm nhẹ đã được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và là tình tiết mà bị cáo có quyền được hưởng, vì thế, khi quyết định hình phạt thì tòa án nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với bị cáo. Việc bị cáo không ăn năn hối cải là điều bất lợi và bị cáo đã không được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”được quy định tại điểm p, khoản 1 Điều 46 cũng như không liên quan đến tình tiết khác mà bị cáo đáng lẽ được hưởng. Bởi quyền của công dân là nghĩa vụ của nhà nước, nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo và thực thi các quyền và lợi ích của công dân, khi đó cơ quan nhân danh quyền lực Nhà nước phải giải thích cho bị cáo hiểu rõ, khi đã có đủ căn cứ xác định A có tội thì phải xem xét tất cả các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Rõ ràng, gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả, nộp tiền cho người bị hại thì bị cáo phải được hưởng tình tiết này mặc dù bị cáo có quyền từ bỏ, và việc vẫn áp dụng tình tiết này là điều có lợi cho bị cáo, ảnh hưởng đến việc giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.

      Về mặt lý luận, quan điểm thứ hai là phù hợp hơn, đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Áp dụng tình tiết có lợi ngay cả khi người được hưởng từ chối là việc thực hiện quyền con người một cách đầy đủ hơn. Tuy nhiên, về thực tiễn đã có trường hợp tòa án không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với bị cáo. Vì vậy, cần phải có sự thống nhất nhằm tránh việc có thể lạm quyền, tùy tiện và nhằm đảm bảo quyền lợi của bị cáo cũng như quyền con người một cách đầy đủ nhất.

Tác giả bài viết: Bùi Kim Trọng

Nguồn tin: VKSND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 67


Hôm nayHôm nay : 10516

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 130987

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 19652014


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo