05:57 ICT Thứ bảy, 02/07/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

TÍCH CỰC THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 62 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN (26/7/1960 - 26/7/2022)

Thực tiễn áp dụng Nghị Quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Thứ sáu - 23/01/2015 15:34
Nghị Quyết được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 23/9/2010 và có hiệu lực thi hành ngày 22/10/2010. Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và 249 của Bộ luật hình sự. Nhưng từ khi áp dụng vào thực tiễn đến nay còn nhiều vướng mắt, gây khó khăn cho việc thực hiện. Tôi xin được nêu lên và cùng tháo gỡ một số điểm khó áp dụng như sau.
Một là, quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 1 Nghị quyết: Trường hợp nhiều người tam gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc…Quy định này được hiểu là nhiều người tham gia đánh bạc với nhau thì mỗi người điều phải chịu định lượng là tổng số tiền, hiện vật của tất cả những người cùng tham gia đánh bạc.
Ví dụ 1: A tham gia đánh bạc với B,C,D ăn thua bằng tiền. Mỗi người bỏ ra 700.000 đồng để đánh bạc. Tức cả A,B,C,D là 2.800.000 đồng – số tiền dùng đánh bạc. Vậy định lượng mà mỗi người A,B,C,D phải chịu để xác định trách nhiệm hình sự là 2.800.000đ. Do đó, hành vi cả 04 người đều thoã mãn quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự.
Ví dụ 2: A, B và C đánh bạc với nhau ăn thua bằng tiền với hình thức đá gà. A cá cược với C 1.000.000 đồng, B cá cược với C 1.000.000 đồng. Tức là A, B cùng bỏ ra mỗi người 1.000.000 đồng và C phải bỏ ra 2.000.000 đồng để tham gia cá cược với nhau.
Như vậy số tiền mà A phải chịu trách nhiệm là 2.000.000 đồng; B phải chịu trách nhiệm là 2.000.000 đồng. Riêng C phải chịu với số tiền cá cược là 4.000.000 đồng. Do đó, hành vi cả A,B,C đều cấu thành tội đánh bạc, quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, thực tiễn việc áp dụng điểm a, khoản 4, Điều 1 chưa được thống nhất, còn nhiều bất cập, chưa đúng với tinh thần của quy định này. Lấy ví dụ 2 thì thực tiễn áp dụng trách nhiệm của A với số tiền phải chịu là 1.000.000 đồng, B cũng 1.000.000 đồng. Riêng C là 2.000.000 đồng (là số tiền của A và B cá cược với C). Chỉ có C bị truy cứu trách nhiệm hình sự, A, B không đủ định lượng. Do đó mà việc áp dụng này là chưa chính xác với quy định trên.
Hai là, quy định “với quy mô lớn” để xác định hành vi Tổ chức đánh bạc tại điểm b, khoản 1, Điều 2 Nghị quyết: Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; khi đánh bạc có phân công người canh gác, người phục vụ, có sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện như ô tô, xe máy, xe đạp, điện thoại…để trợ giúp cho việc đánh bạc.
Tức là người có một trong các hành vi nêu trên thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh Tổ chức đánh bạc quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự (đã thoã định lượng 2.000.000 đồng).
Ví dụ: A tổ chức ghi bán số đầu, số đuôi và bao lô tại nhà thông qua tin nhắn hoặc gọi điện thoại từ người mua đến với hình thức ăn thua bằng tiền, tỷ lệ 1/70…cho khoảng 5-7 người. Khi bị bắt quả tang xác định A ghi bán được với tổng số tiền là 4.500.000 đồng thông qua việc sử dụng điện thoại di động.
Hành vi ở ví dụ trên phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh Tổ chức đánh bạc, quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng chưa được thống nhất, có nơi còn xác định tội Đánh bạc, quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự. Bởi đòi hỏi cần phải thoả mãn tất cả các quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 2 thì mới truy cứu tội Tổ chức đánh bạc. Đây là việc áp dụng chưa đúng quy định này, cần thiết phải tháo gỡ ngay.
Ba là, quy định về “thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặt biệt lớn” tại khoản 3, Điều 2, Nghị quyết.
Việc chứng minh thu lợi bất chính lớn là vô cùng khó khăn, thường chỉ xác định và dựa vào lời khai của người có thu lợi bất chính lớn và những người thân thích sống cùng hoặc cùng sử dụng số tiền thu lợi bất chính này. Do đó, việc định khung hình phạt theo điểm b, khoản 2, Điều 249 mang tính chất chủ quan, thiếu chặt chẽ.
Do chỉ có lời khai nhận của người thu lợi bất chính lớn, không có cơ sở khác để xác nhận, đối chiếu tính phù hợp mà định khung hình phạt là trái với quy định tại khoản 2, Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự “không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”.
Vì thế, thiết nghĩ Cơ quan ban hành Nghị quyết 1/2010 sớm sữa đổi hoặc ban hành phụ lục kèm theo hướng dẫn cụ thể hơn các trường hợp nêu trên nhằm có cách hiểu và áp dụng thống nhất giữa các địa phương.

Tác giả bài viết: Lê Thanh Đời

Nguồn tin: Viện kiểm sát TP.Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 13 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 52


Hôm nayHôm nay : 4325

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 19164

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 19030623


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo