15:00 ICT Thứ năm, 26/05/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 132 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2022)

Thu thập, bảo quản chứng cứ là dữ liệu điện tử và những khó khăn, vướng mắc

Thứ ba - 14/04/2020 14:44

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự, được làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án, tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng Hình sự (TTHS) quy định chứng cứ được thu thập từ nhiều nguồn, trong đó có nguồn từ dữ liệu điện tử.

Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác, giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác (Điều 99 Bộ luật TTHS).

Thời gian gần đây, các đối tượng phạm tội công nghệ cao thường sử dụng các phương tiện điện tử để thực hiện hành vi phạm tội, đây là loại tội phạm mới, chưa có sự tổng kết trên thực tiễn. Hầu hết các đối tượng này có sự am hiểu về dữ liệu điện tử, có am hiểu pháp luật nên có những thủ đoạn tinh vi để che giấu thông tin phạm tội như xóa dữ liệu, phá sập trang Web đã tạo ra… nên đã gây ra không ít khó khăn cho công tác thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án. Do vậy, để giải quyết các vụ án này, các cơ quan tiến hành tố tụng buộc phải nhanh chóng thu thập đầy đủ và kịp thời dữ liệu liên quan, đồng thời, trường hợp cần thiết còn phải tiến hành các biện pháp khôi phục để làm chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các đối tượng.

Việc thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử cần phải thực hiện chặt chẽ và đúng quy định của pháp luật, tại Điều 107 Bộ luật TTHS quy định:

1. Phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật.

Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

2. Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.

3. Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử.

4. Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được.

5. Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng theo quy định của Bộ luật này. Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử.

Những quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác đấu tranh đối với loại tội phạm liên quan đến phương tiện điện tử và dữ liệu điện tử. Tuy nhiên, qua công tác thực tiễn việc thu thập và thu giữ phương tiện điện tử có những một khó khăn như:

- Về quy định của pháp luật, theo quy định tại các Điều 86, Điều 87, Điều 88, Điều 107 và Điều 223 Bộ luật TTHS quy định về dữ liệu điện tử còn có sự chưa đồng nhất, như tại khoản 1 Điều 107 như “phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật.

Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật thì có thể nhận thấy ở đây xem “thu thập phương tiện điện tử” và “thu giữ phương tiện điện tử” là giống nhau, nhưng thực tế là hoàn toàn khác nhau. Bởi vì, dữ liệu điện tử là một trong những nguồn chứng cứ phải thu thập, còn phương tiện điện tử là nơi để chứa đựng “dữ liệu điện tử”. Mặt khác, việc thu thập và bảo quản cũng sẽ liên quan đến nhiều yếu tố như trách nhiệm của người thu thập, người bảo quản dữ liệu được chép, dữ liệu gốc và liên quan đến việc thu thập dữ liệu điện tử mật. Vì vậy, cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể những vấn đề này.

Ví dụ: Nguyễn Văn A bị khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quá trình điều tra vụ án, A bị thu giữ điện thoại di động có chứa các dữ liệu liên quan đến hành vi phạm tội của A có niêm phong và có A xác nhận. Cơ quan điều tra đã làm việc và xác định một số nội dung được lưu trữ trong điện thoại và có in ra thành văn bản để A xác nhận. Tuy nhiên, khoảng 10 ngày sau, Cơ quan điều tra tiếp tục mở điện thoại để làm việc với A thì toàn bộ dữ liệu trong điện thoại đã bị mất hết. Như vậy, khó xác định được lý do dữ liệu bị mất và lỗi của ai để xử lý.

- Về năng lực của những người làm công tác kiểm tra, đánh giá chứng cứ điện tử. Khi tiến hành giải quyết vụ án hình sự có liên quan đến dữ liệu điện tử đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải có trình độ am hiểu nhất định về công nghệ thông tin và dữ liệu điện tử, nhất là trong các vụ án đối tượng phủ nhận hành vi phạm tội và sử dụng các thao tác trên máy tính, đường truyền thì đòi hỏi phải có cách tiếp cận dữ liệu, thu giữ kịp thời, bảo vệ dữ liệu và giải mã dữ liệu. Vì vậy, cần đòi hỏi phải có sự hổ trợ từ các cơ quan chuyên môn cao hơn, nhưng việc này sẽ ảnh hưởng đến thời hạn theo quy định của tố tụng hình sự. Cho nên, cần phải có quy chế giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan chuyên môn để có sự phối hợp kịp thời, đúng quy định.

Tác giả bài viết: Lê Thị Kim Loan

Nguồn tin: VKS ND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 39

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 38


Hôm nayHôm nay : 9054

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 440827

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 18540707


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo