17:13 ICT Thứ ba, 25/01/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thông qua Luật Tố cáo năm 2018

Thứ năm - 05/07/2018 18:02
Vừa qua, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Tố cáo năm 2018.

Theo đó, Luật Tố cáo năm 2018 bao gồm 9 chương 64 điều, quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo, quản lý công tác giải quyết tố cáo; khen thưởng và xử lý hành vi vi phạm.

Để xác định rõ trách nhiệm của người tố cáo, tránh tình trạng lợi dụng các hình thức tố cáo để tố cáo tràn lan, cố ý tố cáo sai sự thật, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của người tố cáo, Luật Tố cáo năm 2018 vẫn tiếp tục kế thừa nội dung của Luật Tố cáo năm 2011 khi chỉ quy định có hai hình thức tố cáo chính thức, đó là tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp.

Đối với đơn tố cáo được gửi đến nhiều nơi, Điều 24 Luật Tố cáo 2018 quy định: Trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và được gửi đồng thời cho nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó có cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết hoặc trường hợp đã hướng dẫn nhưng người tố cáo vẫn gửi tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền giải quyết thì cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được tố cáo không xử lý. Có thể thấy, quy định này nhằm tránh tình trạng người tố cáo gửi đơn tố cáo tràn lan, vượt cấp, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả cho các cơ quan, tổ chức trong việc xử lý đối với tố cáo không thuộc thẩm quyền.

Luật cũng quy định, khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo hình thức quy định của Luật thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý. Tuy nhiên, trong trường hợp thông tin có nội dung tố cáo rõ ràng về người có hành vi vi phạm pháp luật, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tiến hành việc thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tiến hành thanh tra, kiểm tra phục vụ cho công tác quản lý.

Mặt khác, người tố cáo sẽ được cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo và các cơ quan khác như là cơ quan tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo; cơ quan công an; cơ quan quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức, lao động; Ủy ban nhân dân các cấp, công đoàn các cấp,v.v… bảo vệ bí mật thông tin. Quy định này nhằm khuyến khích, động viên mọi người dũng cảm đấu tranh chống lại các hành vi tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật, giúp các cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Người được bảo vệ bao gồm: Người tố cáo; vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo.

Luật Tố cáo năm 2018 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019 và thay thế Luật Tố cáo năm 2011./.

Tác giả bài viết: Hoài Thương

Nguồn tin: VKS ND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 100

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 98


Hôm nayHôm nay : 12107

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 589452

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 15686790


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo