21:15 ICT Thứ ba, 20/04/2021

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 46 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2021) VÀ 135 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5/1886 - 01/5/2021)

Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bao lâu?

Thứ tư - 03/03/2021 22:48

Tạm giữ, tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị bắt quả tang, khẩn cấp, bắt truy nã, người phạm tội đầu thú; đối với bị can, bị cáo để cách ly họ khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội hoặc để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án.

Ở Việt Nam, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 1946) đã nêu rõ tại Điều 11: Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam. Tiếp tục tư tưởng này, những bản Hiến pháp sau này của nước ta đều quan tâm, hoàn thiện chế định liên quan đến việc tạm giữ, tạm giam. Điều 27, Hiến pháp năm 1959 quy định: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được bảo đảm. Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân; việc bắt và giam giữ người phải theo đúng pháp luật. Đến Hiến pháp năm 1992, Điều 71 quy định: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Và đến Hiến pháp năm 2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014, Điều 20 ghi rõ: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.

Về thời hạn Lệnh tạm giam để chuẩn bị xét xử, theo quy định tại khoản 2 - Điều 278 BLTTHS năm 2015 thì thời hạn tạm giam không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 - Điều 277 BLTTHS năm 2015 “Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, … Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp”.

Vấn đề vướng mắc phát sinh. Giả sử: A phạm tội rất nghiệm trọng ở giai đoạn truy tố Viện kiểm sát ra Lệnh tạm giam đối với bị cáo đến ngày 09/3/2021 nhưng ngày 25/02/2021 Viện kiểm sát đã chuyển hồ sơ và Cáo trạng cho Tòa án để thụ lý. Vậy thì thời hạn ra Lệnh tạm giam của bị cáo tính từ ngày nào? Ngày Tòa án thụ lý vụ án là ngày 25/02/2021 hay ngày hết lệnh của Viện kiểm sát đã ra lệnh trước đó là ngày 09/03/2021? Chánh án có quyền ra Lệnh tạm giam tính cả thời gian gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử không? Thực tiễn, có hai quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: Do vụ án rất nghiệm trọng, có tính chất phức tạp căn cứ khoản 1 – Điều 277 BLTTHS 2015. Tòa án ra Lệnh tạm giam thời hạn 90 ngày kể từ ngày 25/02/2021 đến ngày 25/5/2021 (gồm thời hạn tạm giam trong thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng đối với tội rất nghiêm trọng cộng với 30 ngày gia hạn xét thấy đối với vụ án phức tạp).

Quan điểm thứ hai: Tòa án ra Lệnh tạm giam thời hạn 02 tháng (trừ đi thời hạn lệnh của Viện kiểm sát ra trước đó) tức là tính từ ngày 10/3/2021 đến 25/5/2021 còn lại 47 ngày vì đã sử dụng 13 ngày tạm giam của Viện kiểm sát. Và sẽ tiếp tục ra gia hạn tạm giam thêm 30 ngày trong trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án phức tạp.

Trước đây, theo quy định tại Điều 177 BLTTHS năm 2003 thì thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 176 của BLTTHS năm 2003 và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về một số quy định trong phần xét xử sơ thẩm của BLTTHS năm 2003. Theo đó, thời hạn tạm giam được tính kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và không được quá 45 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và ba tháng mười lăm ngày đối với phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Hiện nay, theo quy định Khoản 2 - Điều 278 BLTTHS năm 2015 quy định: Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 - Điều 277 BLTTHS năm 2015. Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì thời hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 30 ngày, tội nghiêm trọng là 45 ngày, rất nghiêm trọng là 02 tháng và tội đặc biệt nghiêm trọng là 03 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án[1] (thời hạn tạm giam đã giảm so với quy định trước đây). Đối với vụ án phức tạp thì Chánh án có thể quyết định gia hạn thêm 15 ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Quy định như vậy là nhằm hạn chế việc lạm dụng việc ra lệnh tạm giam kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo và lệnh chồng lệnh, nhằm đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp 2013 về việc đảm bảo quyền con người trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn giam giữ, đảm bảo việc xét xử; trong khi tại phiên tòa Hội đồng xét xử còn ra Lệnh tiếp tục tạm giam 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Hiện nay chưa có hướng dẫn thống nhất vấn đề này nên các Thẩm phán thường áp dụng không thống nhất, điều này phần nào ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, mặc dù về bản chất thì bị cáo vẫn bị tạm giam nhưng có thể ảnh hưởng đến việc kéo dài thời gian thụ lý giải quyết vụ án.

Như ví dụ nêu trên đối với quan điểm thứ hai, thì Tòa án ra Lệnh tạm giam đối với bị cáo A là 47 ngày kể từ ngày 10/3/2021 (ngày hết lệnh tạm giam của Viện kiểm sát) trừ đi 13 ngày Viện kiểm sát đã ra Lệnh tạm giam trước đó. Nghĩa là, thực hiện như tinh thần của Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về tính thời hạn tạm giam là kể từ ngày tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng của lệnh tạm giam trước đó và không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 - Điều 277 của BLTTHS năm 2015 trừ đi thời hạn bị can bị tạm giam, kể từ ngày thụ lý vụ án (02 tháng đối với tội rất nghiệm trọng).

Đối với việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp theo quy định của khoản 1 – Điều 277 BLTTHS 2015, như vậy thì việc gia hạn tạm giam trong trường hợp này phải được ra lệnh gia hạn tạm giam chứ không được tính chung thời hạn như quan điểm thứ nhất được.

Thấy rằng, đối với thời hạn tạm giam thì có thể áp dụng tinh thần hướng dẫn của Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC để tính thời hạn tạm giam là kể từ ngày tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng của lệnh tạm giam trước đó và không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 - Điều 277 của BLTTHS năm 2015 trừ đi thời hạn bị can bị tạm giam, kể từ ngày thụ lý vụ án (tức là trừ đi thời hạn tạm giam của Viện kiểm sát đang còn khi Tòa án thụ lý vụ án). Nếu ra lệnh kể từ ngày thụ lý vụ án thì dẫn đến hệ lụy là lệnh chồng lệnh, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo; trong thời hạn nhất định bị can, bị cáo phải bị áp dụng hai lệnh cùng lúc. Đồng thời, không được gộp chung thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử cộng với thời hạn gia hạn tạm giam trong cùng một Lệnh tạm giam nhằm hạn chế việc lạm dụng việc ra Lệnh tạm giam kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo và lệnh chồng lệnh, đúng theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi vấn đề này của BLTTHS 2003./.

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai./.
 

[1] Ngày thụ lý vụ án được tính ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng thì Tòa án phải thụ lý vụ án theo quy định tại Khoản 2 – Điều 276 BLTTHS 2015.

Tác giả bài viết: Lê Tấn Lợi

Nguồn tin: VKS.H.Vĩnh Thạnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 36

Thành viên online : 1

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 32


Hôm nayHôm nay : 6871

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 188886

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 12169995


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo