13:47 ICT Thứ hai, 04/07/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

TÍCH CỰC THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 62 NĂM NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN (26/7/1960 - 26/7/2022)

Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

Thứ năm - 10/09/2015 17:02
         Qua gần 10 năm thực hiện, Bộ luật dân sự năm 2015 đã phát huy hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, góp phần cũng cố và bảo vệ các quyền dân sự cơ bản của công dân, đồng thời thúc đẩy sự phát triển các quan hệ kinh tế và các quan hệ khác đáp ứng các yêu cầu của cuộc sống. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, các quy định của Bộ luật dân sự nảy sinh những bất cập đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự vận động của xã hội.

          Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho vợ, chồng cùng thể hiện được ý chí thống nhất trong việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng và nó đã góp phần vào thúc đẩy các quan hệ dân sự cũng như vấn đề tôn trọng và bảo vệ các quyền dân sự của chủ sở hữu tài sản.

          Song, trên thực tế việc thực hiện di chúc chung của vợ, chồng còn nhiều vướng mắc, bất cập, đặc biệt nó làm giới hạn quyền của chủ sở hữu trong việc định đoạt tài sản.

          Theo Khoản 1 Điều 664 Bộ luật dân sự thì: “Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó bất cứ lúc nào”.
  Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 664 quy định Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của vợ, chồng: “Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình”. Như vậy, trong trường hợp này, ý chí của người lập di chúc chung không thể độc lập trong việc định đoạt tài sản – kể cả phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng không đồng ý.

          Vấn đề này sẽ là một bất lợi lớn cho chủ sở hữu tài sản, vì bản chất của việc lập di chúc là nhằm thể hiện ý chí của người có tài sản. Khoảng thời gian kể từ lúc di chúc được lập cho đến khi di chúc có hiệu lực tương đối dài và trong thời gian đó sẽ có nhiều sự kiện xảy ra tác động đến ý chí của người lập di chúc dẫn tới ý định thay đổi, bổ sung thậm chí hủy bỏ bản di chúc đó. Trường hợp đạt được đồng thuận của vợ chồng để cùng thống nhất thì ý nguyện của họ sẽ đạt được. Nhưng nếu không có sự đồng thuận thì sẽ cản trở ý chí của một bên đồng thời gây nên xung đột về quyền lợi giữa hai người, dẫn tới mâu thuẫn và căng thẳng trong quan hệ vợ chồng, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình.

  Mặt khác, Điều 668 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”.

          Trên thực tế thì vợ, chồng thường không chết cùng thời điểm mà có nhiều trường hợp cách nhau nhiều năm. Khi đó, nếu người được thừa kế có nhu cầu chia tài sản sẽ không thực hiện được, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích chính đáng của họ. Hơn nữa, người chồng hoặc vợ còn sống cũng không thể thực hiện được đầy đủ quyền của mình đối với bản di chúc chung đó. Bởi lẽ, theo quy định thì người vợ hoặc chồng còn sống không thể định đoạt được toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng mà chỉ được thay đổi, bổ sung phạm vi phần tài sản của mình trong khối tài sản chung đó. Do vậy, người còn sống cũng không thể tác động đến phần di sản của người đã chết vì lợi ích của mình cũng như những người được thừa kế khác.

          Để bảo đảm quyền của người lập di chúc chung của vợ chồng, khi sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2005 cần xem xét sửa đổi Khoản 2 Điều 664 theo hướng cho phép một bên vợ hoặc chồng có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc trong phạm vi phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng bất cứ lúc nào kể cả khi không có sự đồng ý của vợ hoặc chồng. Khi đó, nếu bên kia không chấp thuận thì coi như di chúc chung đã lập trước đó không còn hiệu lực, mỗi người có quyền định đoạt phần của mình theo quy định chung về thừa kế.

Tác giả bài viết: Phạm Hoài Hận

Nguồn tin: VKSND H. Thới Lai

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 53

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 52


Hôm nayHôm nay : 6820

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 47915

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 19059374


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo