14:31 ICT Thứ năm, 26/05/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 132 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2022)

Trao đổi về bài viết: Phạm Văn T có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? (Tác giả Lê Thành)

Thứ ba - 11/05/2021 09:57
Qua nghiên cứu bài viết trao đổi nghiệp vụ của tác giả Lê Thành, Phòng 2 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc trao đổi nghiệp vụ Phạm Văn T có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Xin có quan điểm trao đổi như sau:

Nội dung vụ án:

Đinh Thị L và Phạm Văn T sống chung như vợ chồng, cả hai cùng thuê nhà trọ tại ấp TL, trị trấn CĐ tại phòng trọ số 01 đối diện là phòng trọ của Nguyễn Thị M thuê.

Khoảng 18 giờ ngày 08/4/2020, trong lúc M đang uống rượu tại phòng trọ của Lâm Văn Đ và Đỗ Thị N cùng dãy phòng trọ với M, thì L đã lén lút vào phòng của M, mở cốp xe mô tô của M lấy 01 bóp da màu đen, rồi quy về phòng trọ của mình. Khi mở bóp ra, L thấy có 02 cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 vòng cẩm thạch có cẩn kim loại màu vàng và một số giấy tờ tuỳ thân của M rồi cất giấu trong phòng trọ của L và T thuê ở.

Khi M trở về phòng trọ của mình thì phát hiện tài sản bị mất, M tìm hỏi L nhưng L không thừa nhận đã trộm cắp. M báo cho ông T biết và đồng thời điện thoại báo Công an thị trấn. Khi ông T về phòng trọ hỏi L thì L thừa nhận có lấy trộm và chỉ cho T nơi giấu cái bóp. Lúc này, T lấy bóp bỏ vào túi quần, định đi ra khỏi phòng trọ nhưng T đã bị những người xung quanh ngăn cản, không cho đi, chờ Công an đến giải quyết. Ông T quay về phòng trọ của mình, mở bóp ra, bỏ tất cả giấy tờ tuỳ thân vào thùng rác, rồi mang bóp vào nhà vệ sinh, nhét vào bồn cầu, rồi dội nước. Liền lúc này, M chạy vào giữ lại được bóp và đã giao nộp cho Công an thị trấn.

Quá trình thụ lý, điều tra, xác minh vụ án đã thu giữ: Các giấy tờ tuy thân và thẻ ATM, giấy chứng nhận đăng ký xe và 2.900.000 đồng. Tiền giao nộp là 52.000.000 đồng, 01 vòng cẩm thạch cẩn vàng, L thừa nhận toàn bộ giá trị tài sản đã chiếm đoạt của M.

Theo tác giả bài viết thì có 03 quan điểm để xử lý đối với hành vi của T. Theo quan điểm của cá nhân tôi, Phạm Văn T phạm Tội che giấu tội phạm theo quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự, bởi vì hành vi của Phạm Văn T đã thỏa mãn 04 yếu tố cấu thành tội phạm của Tội che giấu tội phạm, cụ thể:

Thứ nhất, về khách thể:

Sau khi L thừa nhận lấy cái bóp của chị M và chỉ cho T nơi cất giấu cái bóp, T đã lấy cái bóp bỏ vào túi quần, định đi ra khỏi phòng trọ nhưng T đã bị những người xung quanh ngăn cản, không cho đi, chờ Công an đến giải quyết. T quay về phòng trọ của mình, mở bóp ra, bỏ tất cả giấy tờ tuỳ thân vào thùng rác, rồi mang bóp vào nhà vệ sinh, nhét vào bồn cầu, rồi dội nước. Hành vi này của T đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các Cơ quan tiến hành tố tụng, nếu việc phi tang vật chứng trót lọt sẽ gây khó khăn cho các Cơ quan tố tụng trong việc giải quyết vụ án, chứng minh tội phạm, người phạm tội; ngoài ra hành vi này còn xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, cụ thể ở đây là lợi ích của chị M.

Thứ hai, về mặt khách quan:

Rõ ràng trong vụ án này T đã biết L lấy trộm tài sản của chị M (được M báo việc mất tài sản và chính L thừa nhận đã lấy trộm tài sản) và đã có hành vi cất giấu, thủ tiêu vật chứng (định đem cái bóp ra khỏi phòng nhưng không được do có người ngăn cản lại tiếp tục có hành vi lấy giấy tờ trong bóp ra bỏ vào thùng rác rồi mang cái bóp nét vào bồn cầu dội nước).

Hơn nữa, khi T cất giấu, phi tang vật chứng sau khi hành vi phạm tội của L đã hoàn thành và tội phạm L thực hiện là tội được quy định tại khoản 1 Điều 389 Bộ luật hình sự: “1.Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây của Bộ luật này, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm;……          c) Điều 168, Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 Điều 178…” (L lấy trộm trên 50.000.000 đồng thuộc khoản 2 Điều 173). Tội phạm của T hoàn thành từ thời điểm T có hành vi cất giấu, phi tang vật chứng, không phụ thuộc vào việc hành vi của L có được phát hiện, xử lý hay không. Ở đây T và L chỉ sống chung như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn nên không phải là vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình.

Thứ ba, về chủ thể:

Phạm Văn T đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện

Thứ tư, về mặt chủ quan:

T là thực hiện hành vi một cách cố ý nhằm tạo điều kiện cho L trốn tránh pháp luật, gây cản trở cho việc điều tra, xử lý tội phạm, người phạm tội (khi đem cái bóp ra ngoài không được do bị ngăn cản thì nhét vào bồn cầu, dội nước để thủ tiêu vật chứng).

Trên đây là ý kiến trao đổi của người viết, mong sự đóng góp ý kiến trao đổi của các đồng chí đồng nghiệp.

Tác giả bài viết: Mạc Thị Thư

Nguồn tin: VKS ND .H. Cờ Đỏ

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 37

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 35


Hôm nayHôm nay : 8805

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 440578

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 18540458


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo