03:02 ICT Thứ sáu, 27/05/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 132 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2022)

Phạm Văn T có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì?

Thứ năm - 06/05/2021 11:49

Qua nội dung vụ án sau đã có nhiều ý kiến tranh cãi và quan điểm khác nhau, để có sự nhận thức thống nhất trong việc áp dụng pháp luật tôi xin nêu lên một vụ án “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự, có sự tranh chấp nhau về quan điểm giải quyết, trên cơ sở đó rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của mọi người nhằm làm sáng tỏ quan điểm áp dụng pháp luật trong xử lý tội phạm.

- Nội dung vụ án như sau:
Đinh Thị L sống như vợ chồng với Phạm Văn T, cả hai cùng thuê nhà trọ tại ấp TL, Thị trấn CĐ tại phòng trọ 01 đối diện là phòng trọ của Nguyễn Th M thuê.

Khoảng 18 giờ ngày 08/4/2020, trong lúc M đang uống rượu tại phòng trọ của Lâm Văn Đ và Đỗ Thị N cùng dãy phòng trọ với M, thì L đã lén vào phòng trọ của M, mở cốp xe mô tô của M lấy 01 bóp da màu đen, rồi quay về phòng trọ của mình. Khi mở bóp ra, L thấy có 02 cọc tiền mệnh giá 500.000 đ, 01 vòng cẩm thạch có cẩn kim loại màu vàng và một số giấy tờ tùy thân của M rồi cất giấu trong phòng trọ của L và T thuê ở.

Khi M trở về phòng trọ của mình thì phát hiện tài sản bị mất. M tìm hỏi L nhưng L không thừa nhận đã trộm cắp. M báo cho ông T biết và đồng thời điện thoại báo Công an thị trấn. Khi ông T về phòng trọ hỏi L thì L thừa nhận có lấy trộm và chỉ cho T nơi cất giấu cái bóp. Lúc này, T lấy bóp cho vào túi quần, định đi ra khỏi phòng trọ nhưng T đã bị những người xung quanh ngăn cản, không cho đi, chờ Công an đến giải quyết. Ông T quay về phòng trọ của mình, mở bóp ra, bỏ tất cả giấy tờ vào thùng rác, rồi mang bóp vào nhà vệ sinh, nhét vào bồn cầu, rồi dội nước. Liền lúc này, M chạy vào giữ lại được bóp và đã giao nộp cho Công an thị trấn.

Quá trình thụ lý, điều tra, xác minh vụ án đã thu giữ: các giấy tờ tùy thân của M và thẻ ATM, giấy chứng nhận đăng ký xe và 2.900.000 đồng. Tiền giao nộp là 52.000.000 đồng, 01 vòng cảm thạch cẩn vàng. L thừa nhận toàn bộ giá trị tài sản đã chiếm đoạt của M.

Trong giai đoạn truy tố, có tranh chấp quan điểm với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cụ thể như sau:

 Một là, việc truy tố Đinh Thị L về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là không bàn cãi. Tuy nhiên có quan điểm cho rằng phải xem xét truy tố ông Phạm Văn T về “Tội che giấu tội phạm theo quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm cho rằng phải truy tố ông T với tội danh trên là căn cứ vào việc ông T đã biết L trộm cắp tài sản của M mà vẫn phi tan tài sản mà L đã lấy của bà M và ông cũng đã biết được sự việc mất trộm khi bà M hỏi ông về việc nghi ngờ L lấy trộm tài sản của M. Hành vi của ông T đã đủ các yếu tố theo quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự.

Hai là, xem xét truy tố Phạm Văn T về “Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm này cho rằng việc bà M thông báo cho T biết là đã bị mất trộm tài sản và có nghi ngờ L nhưng khi hỏi thì L không thừa nhận. Sau khi M báo cho T biết T có trực tiếp hỏi L thì lúc này L có thừa nhận và chỉ nơi cất giấu cái bóp cho T. Xét thấy việc tài sản bị mất trộm vẫn còn trong phạm vi phòng trọ của L thì bị M phát hiện và yêu cầu giữ nguyên hiện trường trong khi chờ cơ quan Công an đến do đó tài sản vẫn đang nằm trong vòng quản lý của bị hại M. Lúc này T được L nói cho biết đã lấy trộm bóp của M và chỉ nơi cất giấu. T liền lấy bóp định mang đi tẩu tán nhưng bị giữ lại không mang ra ngoài được. Liền đó, T đi vào phòng trọ vứt các giấy tò tùy thân trong bóp vào trong thùng rác, bỏ bóp vào bồn cầu xã nước nhằm tẩu tán vật chứng thì bị hại phát hiện.

Do đó hành vi của T đã tiếp nhận ý chí của L để tiếp tục thực hiện hành vi phạm Tội trộm cắp tài sản mà L đã thực hiện trước đó.

Ba là, Không xem xét truy tố Phạm Văn T.

Quan điểm này cho rằng mặc dù biết M thông báo cho mình là có sự nghi ngờ L là vợ T (cả hai cùng cặp với nhau thuê nhà trọ sống chung) đã lấy cắp tài sản, lúc này T đã chủ động về hỏi L có lấy trộm không thì L thừa nhận và chỉ chỗ cất giấu cho T, khi T tìm gặp cái bóp mở ra thì chỉ có các giấy tờ tùy thân, không thấy tiền và chiếc vòng do L đã cất giấu chỗ khác. Khi biết được sự việc, T là người chủ động hỏi L và khi biết được sự thật lúc này trạng thái tâm lý của T rất hoang mang, lo lắng. Một mặt muốn bảo vệ cho L mặt khác sợ M sẽ sang khám xét phát hiện nên T mới có hành vi cất bóp vào túi định mang ra ngoài, những do bị ngăn lại nên T mới trở vào vứt các giấy tờ vào thùng rác  và bỏ cái bóp vào bồn cầu định phi tan.

Hành vi của T là không biết rõ tài sản là số tiền mà bị hại M bị mất là bao nhiêu? Do sau khi tìm thấy cái bóp mà L chỉ chỗ, T mở ra không thấy tiền, chiếc vòng. Sự việc xảy ra liên tục về mặt thời gian nên T không có sự chuẩn bị hay bàn tính gì với L mà chỉ biết cất giấu cái bóp khi L chỉ chỗ, sợ khi bị hại M vào sẽ tìm thấy. Do vậy không thể xem xét truy tố T về hành vi che giấu tội tội theo Điều 389 Bộ luật Hình sự và Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự vì trong trường hợp này cái bóp và các giấy tờ tùy thân không có giá trị gì, nói cách khác là không thỏa mãn yếu tố định lượng trong tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.
 

Tác giả bài viết: Lê Thành

Nguồn tin: Phòng 2, VKSND. TP. Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 34

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 32


Hôm nayHôm nay : 4160

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 451952

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 18551832


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo