08:54 ICT Thứ năm, 06/10/2022

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết các vụ án dân sự

Thứ ba - 22/12/2015 10:00
Thời gian qua khi giải quyết các vụ án dân sự, vấn đề nghĩa vụ chứng minh nhiều Tòa án của các tỉnh, thành có quan điểm khác nhau. Ví dụ cụ thể: Trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Nguyên đơn Nguyễn Văn A khởi kiện Trần Văn B trả cho ông số nợ vay là 500.000.000 đồng.
Ông A cung cấp cho Tòa án 01 biên nhận nợ có chữ ký của ông B. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định. Ông B không đồng ý với yêu cầu của ông A vì ông B cho rằng ông không có nợ tiền ông A và không có ký tên vào biên nhận nợ mà ông A cung cấp. Quá trình giải quyết vụ án có 02 quan điểm:
          - Quan điểm thứ nhất: Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011:
 “1. Ðương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
2. Ðương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh”.
          Theo quy định trên có thể hiểu có 03 đối tượng có nghĩa vụ chứng minh, đó là: Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện; bị đơn có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập.
          Như vậy, trong ví dụ trên do ông B không có yêu cầu phản tố nên nghĩa vụ chứng minh thuộc về ông A. Tức trong trường hợp này ông A phải tự mình hoặc yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ là chữ ký của ông B để tiến hành giám định, chứng minh chữ ký trong biên nhận nợ là của ông B.
          - Quan điểm thứ hai:
+ Căn cứ vào Khoản 2 Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh”.
+ Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự: “Cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.
Theo quy định trên thì đương sự chỉ cần phản đối (không nhất thiết có phản tố hay không) thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Và trong tình huống trên thì mặc dù ông B không có đơn yêu cầu phản tố nhưng phải cung cấp chứng cứ chứng minh chữ ký trong biên nhận nợ không phải của ông.
          Đối với vấn đề trên theo người viết đồng tình với quan điểm thứ nhất. Bởi vì nghĩa vụ chứng minh luôn gắn liền với đương sự đưa ra yêu cầu. Bao gồm yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập.
          Hiện tại, các Tòa án cấp huyện thuộc Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ áp dụng quan điểm thứ nhất. Nhưng một số Tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác đã có Tòa án áp dụng quan điểm thứ hai. Hy vọng nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc để việc áp dụng pháp luật thống nhất hơn.

Tác giả bài viết: Phạm Hoài Hận

Nguồn tin: VKSND huyện Thới Lai

Tổng số điểm của bài viết là: 26 trong 11 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 43

Máy chủ tìm kiếm : 10

Khách viếng thăm : 33


Hôm nayHôm nay : 7212

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 64190

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 20367783


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo