13:26 ICT Chủ nhật, 31/05/2020

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Trao đổi nghiệp vụ

CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ LẦN THỨ VII, NHIỆM KỲ 2020 - 2025

Một số vấn đề về thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án

Thứ ba - 03/03/2020 17:15
Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật Hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.


Theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Hình sự hiện hành, thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án được quy định như sau:
a) 05 năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ 03 năm trở xuống;
b) 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 03 năm đến 15 năm;
c) 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm;
d) 20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn quy định trên, người bị kết án lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì thời hiệu tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới. Cũng trong thời hạn này, người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ.

Có thể nói, so với với quy định trước đây thì cách quy định thời hiệu tại Điều này có điểm mới hoàn toàn khác biệt. Theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999: “Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân được chuyển thành tù ba mươi năm”. Với cách quy định này đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, rất khó áp dụng trên thực tế, như sau:

- Không đưa ra được thời hiệu cụ thể mà phụ thuộc vào ý chí của các cơ quan có thẩm quyền, ở đây là quyền quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Việc quyết định một vấn đề không chỉ ảnh hưởng đến người phạm tội mà còn ảnh hưởng nhất định đến đời sống xã hội lại do một cá nhân thực hiện thì đôi lúc sẽ không thể đảm bảo được yếu tố khách quan.

Việc thi hành một bản án có hiệu lực pháp luật thuộc về trách nhiệm, nghĩa vụ của những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cần quy định thời hiệu để đưa ra một giới hạn nhất định cho các cơ quan chức năng phối hợp thực hiện nghĩa vụ của mình và khi hết thời hiệu đó mà bản án không được thi hành thì các bên liên quan phải chịu trách nhiệm. Đồng thời việc quy định cụ thể thời hiệu còn nhằm đảm bảo những quyền cơ bản nhất định của con người, mặc dù hành vi phạm tội của họ đã gây ra hậu quả, tác động đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và cần đặt ra các chế tài nghiêm khắc nhưng việc không thi hành các chế tài không phải xuất phát từ yếu tố lỗi của người bị kết án mà nó lại xuất phát từ phía các cơ quan Nhà nước khi không tổ chức thi hành bản án. Nếu người phạm tội không có lỗi trong việc này thì đương nhiên được hưởng quyền không chấp hành hình phạt tương ứng khi đã quá thời hiệu thi hành mà bản án không được thực hiện.

- Bộ luật Hình sự 1999 đã đưa ra được một mốc thời hạn là “sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm”, với cách quy định này chúng ta có được quyền hiểu, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tù chung thân và tử hình có phải là mười lăm năm hay không, hay một khoảng thời gian khác dài hơn? Nếu cho rằng thời hiệu là mười lăm năm thì hoàn toàn không phù hợp, bởi thời hiệu mười lăm năm đã áp dụng đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên mười lăm năm đến ba mươi năm, huống chi là khi áp dụng đối với hình phạt tù chung thân hay tử hình.

Để có cách hiểu hợp lý hơn, cần xem xét khía cạnh này. Mốc thời hạn là “sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm” là thời hạn tối thiểu để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trên cơ sở đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ xem xét việc có áp dụng thời hiệu hay không. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định áp dụng thời hiệu thì người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình đương nhiên không phải chấp hành bản án này nữa và khung hình phạt giảm xuống khung liền kề, tử hình xuống chung thân, chung thân xuống tù có thời hạn ba mươi năm.

Vì vậy, với quy định cụ thể, rõ ràng thời hiệu thi hành bản án là “20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình” tại Bộ luật Hình sự hiện hành đã khắc phục được những điểm còn bất cập của luật cũ.

Về thời điểm tính thời hiệu: Khi xác định thời điểm tính thời hiệu thi hành bản án thì cần phải căn cứ vào các yếu tố sau:

- Từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật: Theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015, việc xác định hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm căn cứ Điều 343 Bộ luật này, cụ thể: “Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị”. Đối với bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (khoản 2 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015).

- Không thực hiện hành vi phạm tội mới: Như vậy, để thời hiệu được liên tục, không rơi vào trường hợp bị tính lại thì trong thời hạn áp dụng thời hiệu, người bị kết án không được thực hiện hành vi phạm tội mới. Nếu trong khoảng thời hạn này mà người bị kết án lại thực hiện một hành vi mới (mà hành vi này theo bản án của Tòa án có thẩm quyền là phạm tội) thì thời hiệu đối với tội đang bị áp dụng sẽ được tính lại từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp, sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tẩu thoát, tìm mọi cách cố tính trốn tránh việc áp dụng các chế tài được nêu trong bản án thì thời hiệu được bắt đầu tính hoặc tính lại khi người này ra trình diện hoặc bị bắt giữ. Để áp dụng trường hợp này phải cần xem xét hai điều kiện sau:

- Người bị kết án cố tình trốn tránh: Việc cố tính trốn tránh này có nghĩa là người bị kết án tìm mọi cách để né tránh việc áp dụng các chế tài được nêu trong bản án, thể hiện ở một số hành vi như: Phẩu thuật thẩm mỹ để thay đổi hình dạng bên ngoài, thay đổi nơi ở, thay đổi họ tên, bỏ trốn ra nước ngoài…

- Đã có quyết định truy nã: Đây là yếu tố quyết định việc có cơ sở để tính lại thời hiệu hay không, vì nếu người bị kết án trên thực tế có thực hiện hành vi cố tình trốn tránh đi nữa mà cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa ra quyết định truy nã có hiệu lực, thì dù thời hiệu đã trôi qua bao nhiêu cũng hoàn toàn không có căn cứ để tính lại thời hiệu./.

Tác giả bài viết: Hoài Thương

Nguồn tin: VKS ND TP Cần Thơ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 13


Hôm nayHôm nay : 326

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 204906

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9681268


thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử