17:05 ICT Thứ tư, 05/08/2020

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Tin ngành Kiểm sát

CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

MỘT SỐ NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ NHẰM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TỐT LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Thứ tư - 28/01/2015 09:43
Trong năm 2014, được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt, sâu sát và thường xuyên của Ban cán sự đảng, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát các cấp đã triển khai tổ chức thực hiện nhiều giải pháp trọng tâm, mang tính đột phá trong công tác tổ chức cán bộ, như: Đã có nhiều hình thức, biện pháp thực hiện có hiệu quả Kế hoạch đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức trong ngành Kiểm sát nhân dân; hoàn thành việc xây dựng Đề án vị trí việc làm; một số đơn vị đã chủ động đổi mới trong tuyển dụng, bổ nhiệm, đánh giá và bố trí, sử dụng cán bộ, nhất là việc tiến hành tổ chức thi thí điểm để bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý (cấp vụ, cấp phòng, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện), thi tuyển chọn nguồn bổ nhiệm Kiểm sát viên các ngạch, thi kỹ năng nghiệp vụ để làm căn cứ đánh giá cán bộ... Với những hoạt động này đã tạo ra một khí thế mới nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức trong ngành cả về trình độ và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu công tác và cải cách tư pháp trong tình hình mới.
Cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ, việc củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, như: Thành lập mới, chia tách Viện kiểm sát nhân dân cấp huyên, các phòng nghiệp vụ để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới; thành lập hệ thống Thanh tra Ngành và đi vào hoạt động; việc chuẩn bị nhân sự để giới thiệu tham gia cấp ủy nhiệm kỳ 2015 - 2020 gắn với chủ trương Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp không phải là người địa phương và không giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ... cũng được Viện kiểm sát đặc biệt quan tâm và đạt được nhiều kết quả.
Bước sang năm 2015, năm mà đã được xác định là một năm rất nặng nề với công tác tổ chức cán bộ, với rất nhiều nhiệm vụ lớn, khối lượng công việc nặng nề, đặc biệt là tập trung cho nhiệm vụ triển khai Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 trong toàn Ngành; trong đó quan trọng nhất là việc kiện toàn tổ chức bộ máy; rà soát, sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, các chức danh tư pháp và công chức viên chức cho phù hợp với trình độ, khả năng và năng lực của từng người; phục vụ có hiệu quả Đại hội Đảng các cấp...
Để có thể tiếp tục phát huy những thành tựu kết quả đạt được của năm 2014 và tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, trong năm 2015, toàn Ngành tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm, đột phá về công tác tổ chức cán bộ như sau:
Một là, triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật và Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Cùng với việc phổ biến, quán triệt các quy định của Luật và Nghị quyết thi hành Luật, phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Chính phủ hoặc chủ động đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản mới phù hợp với các quy định của Luật để sớm triển khai và đưa các quy định đó vào thực tiễn cuộc sống. Theo Kế hoạch số 110/KH-VKSTC-V9 ngày 12/12/2014 thì phải hoàn thành tối thiểu tổng số 26 văn bản (trong đó, có 8 văn bản trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 3 văn bản đề nghị Chính phủ, 15 văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành).
Hai là, khẩn trương thành lập, đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các đơn vị trong ngành Kiểm sát nhân dân khi có quyết định của các cấp có thẩm quyền; trong đó, tập trung thành lập Viện kiểm sát nhân dân cấp cao để sớm đi vào hoạt động theo đúng thời điểm và thẩm quyền tố tụng luật định; sắp xếp, kiện toàn lại bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của ngành.
Ba là, rà soát, đánh giá, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ công chức, viên chức của tòa ngành, của từng cấp kiểm sát và của từng đơn vị cho phù hợp với khả năng, năng lực của từng người. Xác định đây là cơ hội vàng để củng cố, sốc lại đội ngũ để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ ngày càng nặng nề mà ngành Kiểm sát được Đảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm giao cho.
Bốn là, phục vụ tốt Đại hội Đảng bộ các cấp.
Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, đề nghị Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp phối hợp thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất là, kịp thời triển khai nghiên cứu, thảo luận trong đơn vị để góp ý kiến và thể hiện rõ quan điểm với các văn bản dự thảo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Chính phủ và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân tối cao ban hành có liên quan đến việc triển khai thực hiện các quy định của Luật và Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
Thứ hai là, chủ động rà soát, đề xuất mô hình tổ chức bộ máy làm việc, cơ cấu, số lượng; phân định lại nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trực thuộc theo hướng chuyên sâu (không theo địa phương, vùng miền), phù hợp với quy định mới của Luật và giảm đầu mối trực thuộc.
Thứ ba là, chủ động đánh giá, rà soát lại đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp để kịp thời đề nghị bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại theo quy định của pháp luật cả về tiêu chuẩn, điều kiện cũng như về thời gian, thời điểm bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại nhằm bảo đảm có đủ lực lượng thực hiện tốt nhất nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ở từng cấp Kiểm sát.
Đồng thời, động viên, tạo điều kiện cho các công chức, viên chức trong đơn vị tích cực tự nghiên cứu, học tập và rèn luyện để có đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham dự các đợt thi bổ nhiệm, nâng ngạch các chức danh tư pháp và các vị trí chức vụ lãnh đạo, quản lý trong Ngành.
Thứ tư là, rà soát, đánh giá đội ngũ lãnh đạo chủ chốt, các chức danh tư pháp, công chức, viên chức của các đơn vị, Viện kiểm sát các cấp để bố trí, sắp xếp lại và sử dụng cho phù hợp, kết hợp với việc thực hiện chủ trương chuyển đổi vị trí, điều động, luân chuyển, đào tạo nguồn lãnh đạo, quản lý trong Ngành theo đúng chủ chương của Đảng, Nhà nước, của Ngành, cũng như phù hợp với Đề án vị trí việc làm đã được cấp trên phê duyệt.
Việc bố trí đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp, số lượng công chức, viên chức trong từng đơn vị trực thuộc phải trên cơ sở tổng số biên chế và chỉ tiêu các chức danh tư pháp đã được giao cho từng cấp Kiểm sát.
Việc rà soát, đánh giá đội ngũ lãnh đạo chủ chốt cần được thực hiện trên cơ sở kết quả, chất lượng và hiêu quả công việc, kết hợp với kết quả lấy phiếu tín nhiệm theo hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Kế hoạch số 109/KH-VKSTC-V9 ngày 11/12/2014).
Thứ năm là,tăng cường công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện, đào tạo đội ngũ công chức, viên chức trong Ngành, nhất là các nhân sự đã được lựa chọn, giới thiệu tham gia cấp ủy nhiệm kỳ 2015 - 2020.
 
 
MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG
PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN NĂM 2015
 
Viện khoa học Kiểm sát, VKSND tối cao
 
Năm 2014, Viện khoa học kiểm sát đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu giúp Ban cán sự Đảng, lãnh đạo VKSND tối cao trong công tác xây dựng pháp luật, trong đó Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã được Quốc hội thông qua, hoàn thành xây dựng dự thảo lần 1 BLTTHS (sửa đổi) và tích cực đóng góp vào các dự án luật, pháp lệnh khác. Đạt được kết quả trên, trước hết là do có sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của đồng chí Viện trưởng VKSND tối cao, đồng chí Phó Viện trưởng phụ trách khối, các đồng chí Phó Viện trưởng VKSND tối cao; sự ủng hộ giúp đỡ tích cực, trách nhiệm, trí tuệ của VKSND các tỉnh, thành phố, các đơn vị thuộc VKSND tối cao và ngành bạn; cùng sự nỗ lực cố gắng của các đồng chí trong Tổ biên tập, các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài ngành Kiểm sát, cùng tập thể lãnh đạo, cán bộ của Viện khoa học kiểm sát.
Năm 2015, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Bộ, ngành hữu quan tiếp tục triển khai mạnh mẽ công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế theo kế hoạch triển khai thi hành Hiến pháp và các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và cả nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII; cũng là năm các cấp ủy Đảng khẩn trương tổ chức Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; là năm đầu tiên ngành Kiểm sát triển khai thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và trình Quốc hội cho ý kiến vào Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi).
Là đơn vị tham mưu giúp lãnh đạo VKSND tối cao trong công tác xây dựng pháp luật của ngành, Viện khoa học kiểm sát xin được báo cáo một số nhiệm vụ trọng tâm công tác xây dựng pháp luật năm 2015 như sau:
1. Yêu cầu công tác xây dựng pháp luật của ngành KSND năm 2015
- Đảng và Nhà nước ta xác định: đầu tư của Nhà nước và xã hội cho hoạt động xây dựng pháp luật là đầu tư cho phát triển. Nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện thể chế được Đại hội Đảng lần thứ XI xác định là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược của Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020.
- Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 67/QH13 ngày 29/11/2013 về công tác xây dựng pháp luật. Nghị quyết số 77/2014/QH13 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 cũng đã xác định: một trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 là “Ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn các luật Quốc hội đã thông qua”; đồng thời giao nhiệm vụ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức thi hành kịp thời, có hiệu quả Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi)”.
2. Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác xây dựng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân năm 2015
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, để đáp ứng yêu cầu đặt ra, trọng tâm công tác xây dựng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong năm 2015 tập trung vào một sốnhiệm vụ sau:
Thứ nhất,tập trung rà soát, xây dựng để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; bảo đảm kịp thời đưa Luật vào cuộc sống, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, tạo sự đột phá nâng cao chất lượng công tác kiểm sát và xây dựng Ngành.
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của ngành Kiểm sát. Qua các lần Quốc hội thảo luận, cho ý kiến và với số phiếu biểu quyết 417/423 đại biểu Quốc hội nhất trí thông qua (chiếm 82,7% trên 85,11 % số đại biểu tham gia biểu quyết) đã thể hiện sự đồng tình, đánh giá cao của Quốc hội đối với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân do ngành Kiểm sát chuẩn bị. Tuy nhiên, để Luật thực sự đi vào cuộc sống, phát huy hiệu lực, hiệu quả thì việc triển khai thi hành luật đóng vai trò rất quan trọng.
Để cụ thể hóa quy định của Luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho mọi lĩnh vực công tác kiểm sát, Ngành Kiểm sát cần tiếp tục tập trung trí tuệ, khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Trước mắt cần tập trung xây dựng 03 nhóm văn bản sau:
- Các văn bản trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc phê chuẩn;
- Các văn bản đề nghị Chính phủ ban hành;
- Các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (tổng số gồm 26 văn bản).
Nội dung, yêu cầu đối với từng văn bản và đơn vị được phân công nhiệm vụ xây dựng dự thảo văn bản đã được nêu cụ thể tại Kế hoạch số 110/KH-VKSTC-V9 ngày 12/12/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các đơn vị được giao nhiệm vụ cần khẩn trương xây dựng dự thảo văn bản, gửi xin ý kiến các cơ quan, đơn vị liên quan; Viện Khoa học kiểm sát có trách nhiệm tham mưu giúp lãnh đạo Viện tổ chức thẩm định nội dung các văn bản trước khi trình cấp có thẩm quyền ban hành; bảo đảm đúng quy trình, thủ tục, phù hợp với quy định của Luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho tổ chức và hoạt động của Ngành.
Thứ hai, một số công việc trọng tâm tiếp tục xây dựng Dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) trong năm 2015.
Với nhiệm vụ trọng tâm, tiếp tục tập trung trí tuệ, phát huy tính sáng tạo và kinh nghiệm xây dựng Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành hữu quan; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là của các đoàn Đại biểu Quốc hội, các cơ quan tư pháp trung ương và địa phương để hoàn thiện dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi).
Đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Ngành, trong đó Viện Khoa học kiểm sát xác định là nhiệm vụ trọng tâm đột phá năm 2015 của đơn vị. Viện khoa học kiểm sát tiếp tục làm tốt công tác nghiên cứu, tham mưu, tổng hợp ý kiến trong và ngoài Ngành, giúp Ban soạn thảo xây dựng Dự án Bộ luật có chất lượng và đúng tiến độ.
Trong thời gian qua, dưới sự chỉ đạo sát sao của đồng chí Viện trưởng VKSND tối cao, đồng chí Phó Viện trưởng phụ trách và Ban soạn thảo, chúng ta đã tiến hành rất nhiều hoạt động phục vụ xây dựng dự án Bộ luật và đã hoàn thành dự thảo, tổ chức xin ý kiến ở nhiều cấp độ, xin ý kiến các ngành và đã tổ chức Hội nghị liên ngành tại 63 tỉnh, thành phố để xin ý kiến về dự thảo Bộ luật. Kết quả tổng hợp các ý kiến góp ý, nhìn chung các cấp, các ngành, các địa phương đánh giá rất cao về sự chuẩn bị nghiêm túc, cách thức xây dựng luật sáng tạo và rất cầu thị của ngành Kiểm sát. Nội dung dự án Bộ luật được đánh giá cao về tính sáng tạo, tinh thần đổi mới; đã thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, đặc biệt là chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; cụ thể hóa đầy đủ các quy định của Hiến pháp năm 2013 về các nguyên tắc tiến bộ và đổi mới của tố tụng tư pháp; đáp ứng yêu cầu tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đổi mới trình tự, thủ tục tố tụng bảo đảm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời; bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng hình sự… Nhiều ý kiến tham gia góp ý hoàn thiện dự thảo Bộ luật rất cụ thể, chi tiết, chủ yếu nhằm làm rõ hơn các nội dung của dự thảo Bộ luật; thể hiện trách nhiệm và sự đồng thuận cao về một dự án luật văn minh, tiến bộ, với nhiều điểm mới đột phá, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của thực tiễn và tiếp thu hợp lý kinh nghiệm quốc tế.
Theo kế hoạch, Dự án Bộ luật sẽ được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến vào tháng 3/2015; trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu vào kỳ họp thứ 9 (vào tháng 6 năm 2015) và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ X (vào tháng 10 - 11 năm 2015). Để bảo đảm chất lượng dự án Bộ luật TTHS (sửa đổi), phục vụ tốt các yêu cầu thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội thì từ nay cho đến tháng 5/2015, theo chỉ đạo của Lãnh đạo VKSND tối cao và Ban soạn thảo, các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao, các Viện kiểm sát địa phương cần có sự phối hợp thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
Qua thực tiễn hoạt động của đơn vị, tiếp tục phát hiện những vấn đề vướng mắc, bất cập của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, chủ động đề xuất với Ban soạn thảo, Tổ biên tậpcác phương án sửa đổi cụ thể trongBộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) nhằm tháo gỡ, khắc phục kịp thời; tiếp tục tham gia, góp ý kiến hoàn thiện dự thảo Bộ luật.
Thực hiện các hình thức phù hợp để cung cấp thông tin, tuyên truyền về các nội dung Dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) để tranh thủ, xin ý kiến, nhằm tạo sự đồng thuận, ủng hộ của các cơ quan, ban, ngành ở địa phương; đặc biệt là sự ủng hộ, đồng thuận của các cơ quan như: Đoàn Đại biểu Quốc hội, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp và các cơ quan tư pháp ở địa phương đối với Dự thảo Bộ Luật.
Phát huy kinh nghiệm xây dựng Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các VKSND cấp tỉnh cần chủ động phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tổ chức Hội nghị góp ý về dự án Bộ luật trước khi đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII (vào tháng 6/2015) nhằm tranh thủ sự ủng hộ, tạo sự đồng thuận của các đại biểu Quốc hội khi thảo luận về dự án Bộ luật.
Các VKSND cấp tỉnh chủ động tham mưu cho tỉnh ủy, thành ủy ban hành nghị quyết chuyên đề chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành ở địa phương tạo điều kiện và phối hợp chặt chẽ với VKSND trong công tác xây dựng và triển khai thực hiện Bộ luật sau khi được Quốc hội thông qua.
Viện khoa học kiểm sát chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao và các đơn vị thuộc các bộ, ngành hữu quan chủ động rà soát, khẩn trương xây dựng các dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành các quy định được giao trong Bộ luật để đưa vào Hồ sơ dự án Bộ Luật, trình các cơ quan của Quốc hội theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngay sau khi Luật được Quốc hội thông qua, cần khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản hướng dẫn, trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành để có thể triển khai thực hiện ngay sau khi Bộ luật có hiệu lực thi hành.
Thứ ba, tập trung bám sát, tham gia có chất lượng vào việc xây dựng các đạo luật khác có liên quan chặt chẽ đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như: Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự, Luật tạm giữ, tạm giam, Bộ luật hình sự (sửa đổi), Bộ luật dân sự (sửa đổi), Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi), Luật tố tụng hành chính (sửa đổi)…
Với trách nhiệm là thành viên Ban soạn thảo, Tổ biên tập các dự án Luật nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân cần phải tích cực, chủ động tham gia xây dựng các dự thảo luật, đặc biệt chú ý các quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Ngành đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các luật khác mới được Quốc hội thông qua; đồng thời, phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật.
Có thể nhận thấy, trong thời gian tới, nhiệm vụ công tác xây dựng pháp luật của Ngành hết sức nặng nề, với trách nhiệm của đơn vị chủ trì, tham mưu trong công tác xây dựng pháp luật, Viện khoa học mong rằng các đơn vị tiếp tục quan tâm giúp đỡ để Viện khoa học kiểm sát hoàn thành tốt nhiệm năm 2015.
 
 
 
 
 
 
NHỮNG BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
THÔNG TƯ LIẾN TỊCH SỐ 06/2013 CỦA LIÊN NGÀNH TƯ PHÁP TRUNG ƯƠNG HƯỚNG DẪN VỀ CÔNG TÁC TIẾP NHẬN,
GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ CỦA NGÀNH KIỂM SÁT TỈNH PHÚ THỌ
 
                                                                                VKSND tỉnh Phú Thọ
 
Việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được coi là tiền đề quan trọng, là đầu vào của quá trình giải quyết các vụ án hình sự, do vậy để giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn, tránh oan, sai, bỏ lọt tội phạm, góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, thì trước hết đòi hỏi phải thực hiện tốt từ khâu tiếp nhận, giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng như hoạt động kiểm sát đối với lĩnh vực này.
Nhận thức tầm quan trọng đó, từ năm 2007, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã phối hợp với các cơ quan trong tỉnh như: Công an, Thanh tra nhà nước tỉnh, Cục thuế tỉnh, Chi cục kiểm lâm tỉnh, Chi cục Hải quan, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh để thống nhất ra Nghị quyết liên ngành số 01/2007/NQ-LN ngày 15/11/2007 về phối hợp thực hiện công tác tiếp nhận, giải quyết, quản lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, sau đó năm 2009 được liên ngành cấp tỉnh tiến hành sơ kết và sửa đổi, bổ sung tại Nghị quyết liên ngành số 02/2009/NQ-LN ngày 01/7/2009.
Sau một thời gian thực hiện, qua công tác kiểm sát, nắm bắt tình hình, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ nhận thấy rằng, đối với những tố giác, tin báo về tội phạm thì cơ quan tiếp nhận đầu tiên và chủ yếu là Công an và Ủy ban nhân dân dân xã, phường, thị trấn. Nhiều tố giác, tin báo về tội phạm sau khi các cơ quan này tiếp nhận đã không chuyển Cơ quan điều tra theo thẩm quyền,  do vậy không đánh giá đúng thực trạng về tình hình vi phạm, tội phạm trên địa bàn toàn tỉnh. Tuy nhiên, luật không quy định cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát đối với Công an và Ủy ban nhân dân dân cấp xã về việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.
Chính vì vậy, Ban cán sự đảng, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã xác định công tác trọng tâm, mang tính đột phá trong năm 2013 đó là tiến hành khảo sát về tình hình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Ngay từ đầu năm, Viện kiểm sát tỉnh Phú Thọ có Kế hoạch số 261/KH-VKS ngày 22/4/2013 về việc xin ý kiến Tỉnh ủy để khảo sát, đánh giá việc tiếp nhận, quản lý, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, nhằm giúp cho Tỉnh ủy nắm được thực trạng về tình hình vi phạm và tội phạm trên địa bàn toàn tỉnh, và Thường trực Tỉnh ủy đã có Thông báo số 781/TB-TU ngày 26/4/2013 về việc đồng ý cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh chủ trì, phối hợp với UBND, Ban pháp chế HĐND tỉnh, Công an tỉnh và một số cơ quan khác tiến hành khảo sát, đánh giá về hoạt động tiếp nhận, quản lý, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thời điểm từ 01/1/2009 đến 31/5/2013 trên địa bàn toàn tỉnh.
Từ đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã chỉ đạo 2 cấp kiểm sát, cùng phối hợp với các ngành có liên quan ở cấp mình tiến hành khảo sát ở tất cả các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc tiếp nhận, và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Sau hơn 7 tháng tiến hành khảo sát và kiểm sát tại gần 300 đơn vị có liên quan trong địa bàn tỉnh, Viện kiểm sát đã phối hợp với các ngành trong khối Nội chính, dưới sự chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh, đã tổ chức Hội nghị tổng kết, đánh giá kết quả khảo sát về tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố vào ngày 28/12/2013.
Kết quả khảo sát cho thấy, tình trạng còn bỏ lọt nhiều vụ việc có tố giác, tin báo tội phạm nhưng được các cơ quan không nằm trong hệ thống cơ quan điều tra đã tự xử lý hoặc không chuyển vụ việc đó cho Cơ quan điều tra tiếp nhận xử lý. Tình trạng này tồn tại ở hầu hết các đơn vị Công an các xã, phường, thị trấn. Số liệu được tổng hợp từ trong gần năm năm từ 13 Cơ quan điều tra huyện, thành, thị đã tiếp nhận từ Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã là 4.587 tố giác, tin báo về tội phạm; tuy nhiên, theo kết quả khảo sát xác định, cấp xã đã chuyển cho Cơ quan điều tra Công an cấp huyện là tổng số là 6.761 tố giác, tin báo về tội phạm. Như vậy, có sự chênh lệch khá lớn, đó là cấp xã báo cáo tổng số tố giác, tin báo về tội phạm đã chuyển cho Cơ quan điều tra nhiều hơn số tố giác, tin báo về tội phạm mà cấp huyện theo dõi là 2.174 tin. Kết quả khảo sát còn cho thấy có rất nhiều vụ việc lẽ ra các cơ quan thuộc cấp xã sau khi tiếp nhận phải chuyển ngay lên Cơ quan điều tra để khởi tố hình sự nhưng cấp xã không chuyển, như: một số vụ trộm cắp trâu, bò, xe máy, máy vi tính… trị giá trên 2 triệu đồng; hoặc những vụ gây thương tích có sử dụng hung khí… rõ ràng đã cấu thành tội phạm; thậm chí có vụ việc Công an xã tự xử lý, hành chính hóa quan hệ hình sự và ra quyết định xử phạt hành chính. Bên cạnh đó, có những sự việc đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng Cơ quan điều tra không ra Quyết định khởi tố, để tin báo kéo dài, không theo dõi hoặc có trường hợp phải ra Quyết định không khởi tố mới đúng pháp luật nhưng Cơ quan điều tra lại ra quyết định khởi tố vụ án…. Do thiếu những cơ sở pháp lý trong hoạt động kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm nên tình trạng bỏ lọt vụ án hình sự không được khởi tố ở các xã, phường, thị trấn là một thực tế. Vì Viện kiểm sát nhân dân không kiểm sát tại cấp xã về hoạt động tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm nên không nắm được, chỉ đến khi thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy giao cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh chỉ đạo, phối hợp, khảo sát, đánh giá, tổng kết mới thấy được thực trạng trên. Do vậy, có thể thấy, nếu có một hành lang pháp lý đầy đủ, hoàn thiện về kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm và gắn công tố với hoạt động kiểm sát ngay trong giai đoạn này thì sẽ phát hiện được nhiều vụ phạm tội phải được khởi tố.
Trên cơ sở khảo sát toàn diện về công tác tiếp nhận, quản lý, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, đã chỉ ra  những những tồn tại và bất cập trong công tác này, đó là việc Cơ quan điều tra chưa thực hiện đúng, đầy đủ các biện pháp nghiệp vụ trong hệ thống ngành dọc của mình để quản lý tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định; cơ chế phối hợp trong việc nắm, quản lý tố giác tội phạm không rõ ràng, việc phối hợp giữa các cấp, các ngành trong lĩnh vực này còn lúng túng, nhất là quan hệ phối hợp giữa Công an các huyện, thành, thị với Công an và Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc phân loại, xử lý giữa vụ việc xử lý vi phạm hành chính và vụ việc có dấu hiệu phạm tội, việc giải quyết tố giác tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra nhiều việc còn chậm, trong đó có một số vụ kéo dài. Chính những điều đó đã làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa vi phạm và tội phạm trên địa bàn toàn tỉnh.
Từ những tồn tại đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tham mưu để Ban thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ ban hành Chỉ thị số 20-CT/TU ngày 21/01/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Theo đó, Công an tỉnh có biện pháp chỉ đạo lực lượng Công an trong toàn tỉnh nắm chắc tình hình diễn biến về tội phạm, quản lý chặt chẽ các tố giác, tin báo về tội phạm đồng thời có cơ chế phối hợp cụ thể, hiệu quả giữa Cơ quan điều tra với UBND và Công an các xã, phường, thị trấn.
Cùng với thời điểm tiến hành khảo sát, thì liên ngành Trung ương đã ban hành Thông tư liên tịch số 06/2013 ngày 02/8/2013 hướng dẫn về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có hiệu lực từ 16/9/2013. Do vậy, Chỉ thị số 20 của Ban thường vụ Tỉnh ủy đã giao cho Công an tỉnh phối hợp cùng với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tiến hành tổ chức tập huấn Thông tư liên tịch số 06, đồng thời giao cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện định kỳ 6 tháng, 1 năm khảo sát để tổng hợp báo Thường trực huyện, thành, Thị ủy và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; Định kỳ hàng năm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh báo cáo Thường trực tỉnh ủy về tình hình tiếp nhận, xử lý, quản lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh uỷ, ngày 12/3/2014, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã phối hợp với Công an tỉnh tổ chức hội nghị tập huấn tại Viện kiểm sát tỉnh về công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đến các đơn vị liên quan trực tiếp đến công tác này như: Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Hải quan, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp và đặc biệt là các cơ quan trực tiếp và chủ yếu trong việc tiếp nhận, giải quyết, đó là các lực lượng trong Công an nhân dân. Qua đó, các ngành triển khai chỉ đạo thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đối với hệ thống ngành dọc của mình.
Sau Hội nghị tập huấn, để việc thực hiện Thông tư liên tịch số 06 và Chỉ thị số 20 của Tỉnh uỷ đạt được hiệu quả cao, Liên ngành Viện kiểm sát, Công an, Hải quan, Kiểm lâm tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quy định liên ngành số 01 ngày 18/3/2014 về việc tổ chức thực hiện một số quy định của Thông tư liên tịch số 06 đối với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong toàn tỉnh. Theo đó, toàn bộ hệ thống Cơ quan điều tra cũng như Viện kiểm sát và các ngành có liên quan đã mở sổ sách để theo dõi về việc tiếp nhận, cũng như các biện pháp giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo mẫu hướng dẫn; trình tự, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố từ khâu tiếp nhận, phân loại, ra quyết định phân công giải quyết cũng như quyết định phân công kiểm sát việc giải quyết cho đến việc thông báo kết quả giải quyết, thống kê về tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố về cơ bản đã được thực hiện theo đúng hệ thống biểu mẫu đã ban hành.
Bên cạnh việc thực hiện 07 biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 06 thì liên ngành Viện kiểm sát, Công an, Hải quan, Kiểm lâm tỉnh Phú Thọ còn thống nhất ban hành thêm biểu mẫu “phiếu chuyển tố giác, tin báo về tội phạm” để thuận tiện cho việc kiểm soát đối với những tố giác, tin báo về tội phạm được các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, sau đó chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết, phù hợp với quy định tại Điều 7 của Thông tư liên tịch số 06, đó là: “Đối với các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, thì sau khi tiếp nhận thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết, đồng thời phiếu chuyển tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố này phải được gửi cho Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra để theo dõi”.
Ngoài ra, Quy định liên ngành cũng thống nhất việc tiến hành giao ban định kỳ giữa các cơ quan giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là 3 tháng 1 lần, để thông qua đó lãnh đạo các ngành nắm bắt được tình hình tiếp nhận và tiến độ giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đồng thời cùng nhau tháo gỡ, tìm hướng giải quyết đối với những tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có yếu tố phức tạp. Kết quả họp giao ban liên ngành ở cấp huyện phải được gửi về VKSND tỉnh và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh để quản lý, theo dõi, chỉ đạo.
Có thể nói, sau khi có Chỉ thị số 20 của Ban thường vụ Tỉnh ủy và tổ chức tập huấn Thông tư liên tịch số 06 về công tác tiếp nhận, xử lý, quản lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tạo nên sự chuyển biến thực sự trong nhận thức và tổ chức thực hiện ở ngành các cấp trong toàn tỉnh về công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Sau 1 năm thực hiện, kết quả được thể hiện như sau: số tin báo thụ lý tăng so với cùng kỳ là 85 tin (tăng 4,7%); tỷ lệ giải quyết tăng 2 %.; Bên cạnh đó, chất lượng của việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng dần dần từng bước được nâng lên, như: Trình tự, thủ tục trong việc tiếp nhận; việc phân công Điều tra viên, phân công Kiểm sát viên, việc phân loại tố giác, tin báo; thống nhất việc ra hạn giải quyết đối với những tố giác, tin báo cần nhiều thời gian để xác minh…được Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phối hợp tích cực và thống nhất.
Như vậy, với việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 06 một cách đồng bộ, tạo nên sự nhận thức và thực hiện thống nhất của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các cơ quan tư pháp ở tỉnh Phú Thọ là những biện pháp quan trọng tạo sự chuyển biến thực sự trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Trong thời gian tới, chúng tôi thấy rằng cần tiếp tục phát huy những gì đã đạt được, như: Thực hiện đúng các quy định của Thông tư liên liên tịch số 06, Chỉ thị 20 của Tỉnh uỷ, Quy định liên ngành số 01; tiến hành sơ kết, tổng kết trong quá trình thực hiện, đồng thời tiếp tục tìm ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong quá trình giải quyết nhằm đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn toàn tỉnh
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO CỦA VKSND
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NHẰM THỰC HIỆN TỐT CHỈ THỊ
SỐ 06/CT-VKSTC CỦA VIỆN TRƯỞNG VKSND TỐI CAO
VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 63/2013/QH13 CỦA QUỐC HỘI
 
VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế
 
Trong năm 2014, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế không xảy ra tội phạm mang tính tổ chức băng nhóm kiểu xã hội đen, tội phạm mang tính quốc tế; tình hình tội phạm giảm so với năm 2013, nhưng tội phạm về sở hữu tăng, trong đó tội trộm cắp tài sản chiếm trên 70%. Đáng lưu ý tội phạm công nghệ cao có xu hướng gia tăng, tính chất, mức độ, quy mô ngày càng phức tạp, tinh vi, hậu quả lớn, phạm vi hoạt động liên quan đến nhiều tỉnh thành trong cả nước. Đặc điểm của loại tội phạm này là ở một nơi nhưng có thể gây án nhiều nơi trong và ngoài nước, dấu vết vật chứng để lại ít, chủ yếu là chứng cứ điện tử rất khó phát hiện và thu thập, nhưng lại dễ bị tiêu hủy nên việc điều tra, xử lý đối với loại tội phạm này hết sức khó khăn. Tội phạm về ma túy giảm nhưng số đồng phạm tăng và diễn biến phức tạp. Tính chất, phương thức phạm tội của các loại tội phạm ngày càng tinh vi, đa dạng hơn.
Để thực hiện tốt Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng VKSND tối cao và Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc hội đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, hạn chế thấp nhất các trường hợp oan, sai và bỏ lọt tội phạm, ngay từ đầu năm, VKSND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã đề ra một số biện pháp quản lý, chỉ đạo để thực hiện như sau:
1. Về việc quán triệt, nhận thức
Lãnh đạo, cán bộ, Kiểm sát viên hai cấp VKSND tỉnh Thừa Thiên - Huế phải quán triệt đầy đủ, sâu sắc, nhận thức xác định tầm quan trọng của Nghị quyết số 63 của Quốc hội và Chỉ thị số 06 của Viện trưởng VKSND tối cao từ đó tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định và các quy chế nghiệp vụ của VKSND tối cao (tổ chức tập huấn, hướng dẫn thực hiện Thông tư liên tịch số 06; yêu cầu các đơn vị nghiên cứu, quán triệt Chỉ thị số 06; thông qua việc giao ban Cụm (chia thành 03 cụm), kiểm tra nghiệp vụ, tiếp tục quán triệt tầm quan trọng, ý nghĩa của Chỉ thị số 06; tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 06 và đánh giá kết quả thực hiện Chỉ thị số 06.
2. Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Xác định đây là một trong nhiệm vụ trọng tâm của công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra nhằm chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm, ngay trước thời điểm Thông tư liên tịch số 06 được ban hành và có hiệu lực, thực hiện; để thực hiện Nghị quyết số 37 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013, VKSND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã xác định công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trong năm 2013, đồng thời đã xây dựng và ban hành Quy trình công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.Do đó, khi Thông tư liên tịch số 06 có hiệu lực thực hiện, VKSND hai cấp của tỉnh đã chủ động, tích cực, thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng, đặc biệt là Cơ quan điều tra hai cấp để làm tốt hơn việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Các đơn vị đều đã xây dựng, thực hiện nghiêm túc quy chế phối hợp; hàng quý, VKSND tỉnh chủ trì giao ban các đơn vị cấp huyện, đề ra các giải pháp, yêu cầu cụ thể đối với các đơn vị có tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thấp; thường xuyên kiểm tra, ban hành hướng dẫn, thông báo rút kinh nghiệm cho cấp huyện; giao phòng nghiệp vụ (Phòng 1A) theo dõi công tác kiểm sát tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và thẩm định lại tất cả hồ sơ án không khởi tố của cấp huyện kịp thời phát hiện, khắc phục các vi phạm, sai sót.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnhđã chủ trì phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tại Cơ quan điều tra và VKSND cấp huyện. Qua đó kịp thời chấn chỉnh các tồn tại, thiếu sót, hướng dẫn thực hiện những việc còn vướng mắc, định kỳ phúc tra việc thực hiện kiến nghị khắc phục. Ngoài ra, Phòng 1A và Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC44), Phòng tham mưu, tổng hợp (PV11) Công an tỉnh thường xuyên đối chiếu số liệu về tình hình vi phạm, tội phạm do Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra cấp huyện báo cáo lên từ đó hạn chế việc bỏ lọt hoặc “giấu tin báo” để có biện pháp kiểm tra, yêu cầu xử lý triệt tất cả các tin báo.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy xây dựng Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm và hoạt động của các cơ quan tư pháp; trong đó chú trọng công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của Thông tư liên tịch số 06, bảo đảm yêu cầu Nghị quyết số 37 của Quốc hội; ngày 06/11/2014 Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TU.
3. Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
Ngay sau khi tiếp thu Chỉ thị số06 của Viện trưởng VKSND tối cao tại Hội nghị do VKSND tối cao tổ chức, VKSND tỉnh đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc chỉ đạo, hướng dẫn của VKSND tối cao, nhất là các nhiệm vụ trong Chỉ thị số 06; đồng thời thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp để tăng cường trách nhiệm, hạn chế sai sót, oan sai. Qua giao ban Cụm đánh giá các mặt công tác, đặc biệt là việc thực hiện Chỉ thị số06. Trong đó, chú trọng đến quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra, giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên để tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự. Xác định trách nhiệm của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong kết quả điều tra các vụ án hình sự, do đó nhiều vụ án Cơ quan điều tra đã mời Viện kiểm sát tham gia từ giai đoạn xây dựng chuyên án và phá án (Viện kiểm sát đã tham gia nhiều chuyên án đối với loại tội phạm công nghệ cao và đã được Bộ trưởng Bộ Công an tặng bằng khen cho các cá nhân và tập thể có nhiều thành tích trong “Đấu tranh phòng, chống tội phạm”). Các ý kiến tham gia của Viện kiểm sát được Cơ quan điều tra ghi nhận, thực hiện, góp phần quan trọng trong việc phá án, khởi tố, thu thập tài liệu, chứng cứ, xác định hành vi và các đối tượng phạm tội. VKSND tỉnh cũng cho phép các đơn vị nghiệp vụ chủ động phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ khác của Cơ quan Công an, đặc biệt với Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao (C50) của Bộ Công an trong phương thức thu thập tài liệu, đánh giá chứng cứ, sử dụng chứng cứ; chuyển hóa và sử dụng các chứng cứ trinh sát, chứng cứ tài liệu điện tử như thế nào để đảm bảo khách quan, đúng pháp luật. Từ đó, đề ra các yêu cầu điều tra thiết thực, có ý nghĩa trong việc điều tra, xử lý, được Cơ quan điều tra thống nhất cao, nghiêm túc thực hiện.
Việc phân án cho Kiểm sát viên cũng được lãnh đạo Viện chú trọng quan tâm, cân nhắc trình độ, năng lực, kinh nghiệm của từng Kiểm sát viên để xem xét; các vụ án khó, phức tạp giao cho Kiểm sát viên có năng lực, nhiều kinh nghiệm thực tiễn thụ lý tất cả các Kiểm sát viên phải tham gia với Điều tra viên ngay từ đầu, Kiểm sát viên phải thường xuyên “cập nhật” kết quả điều tra trong quá trình điều tra vụ án, từ đó chủ động trao đổi, kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra và cùng Điều tra viên tổ chức thực hiện. Do đó, cơ bản các vụ án điều tra đến đâu, Kiểm sát viên theo dõi, nắm bắt và yêu cầu điều tra thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, hạn chế tối thiểu việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm. Đồng thời, VKSND tỉnh kiểm tra 100% các quyết định truy tố, đình chỉ, các bản án, quyết định xử lý vụ án của cấp huyện, có phiếu kiểm tra để phản ánh kết quả kiểm tra cụ thể; đồng thời nghiêm túc xem xét trách nhiệm của Kiểm sát viên trong trường hợp không phát hiện sai sót, vi phạm của cấp dưới để vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hủy án,...
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, thẩm định các quyết định tố tụng của VKSND cấp huyện; bảo đảm 100% báo cáo thỉnh thị của cấp huyện được nghiên cứu trả lời đúng hạn, nội dung đáp ứng đề nghị của cấp huyện. Các báo cáo thỉnh thị về nội dung có quan điểm khác nhau giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cấp huyện đều được VKSND tỉnh phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh thống nhất quan điểm trước khi trả lời. Do đó, ý kiến trả lời thỉnh thị của VKSND tỉnh được Cơ quan điều tra cấp huyện thực hiện nghiêm túc (hạn chế việc sau khi có ý kiến của VKSND tỉnh, Cơ quan điều tra cấp huyện không đồng ý tiếp tục xin ý kiến Cơ quan điều tra cấp trên) nên tiến độ điều tra cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao.  
4. Kết quả
- Tỷ lệ giải quyết 1.008/1.116 tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đạt 90,32%, vượt chỉ tiêu của Ngành và Nghị quyết số 37 của Quốc hội. Tỷ lệ tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố quá hạn giải quyết 10,2%, vượt chỉ tiêu 9,8%.
- Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã kiểm sát trực tiếp việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 13 lượt tại 10 Cơ quan điều tra; kiểm sát trực tiếp tại 02 cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu (Hạt kiểm lâm huyện, Đồn Biên phòng).
- Đã ban hành 18 kiến nghị, 05 văn bản yêu cầu khắc phục vi phạm trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo và kiến nghị khởi tố; đã thẩm định 286 hồ sơ không khởi tố vụ án của cấp huyện; đã phát hiện, yêu cầu và hủy bỏ 01 quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án (Hiện vụ án đã được xét xử mức án 03 năm tù về tội cố ý gây thương tích). Nhiều đơn vị đã giải quyết xong tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; không còn tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố quá hạn; một số tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố quá hạn kéo dài đã lâu được hai ngành phối hợp giải quyết dứt điểm. Công tác phối hợp trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố với các cơ quan chức năng ngày càng chặt chẽ hơn. Đặc biệt là hiệu quả của sự phối hợp của Viện kiểm sát và Công an tỉnh trong việc hướng dẫn, kiểm tra, phúc tra công tác giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đối với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cấp huyện.
- Kết quả trách nhiệm công tố trong giai đoạn điều tra ngày càng được tăng cường và thể hiện rõ nét hơn. Tỷ lệ giải quyết án điều tra 693 vụ/837 vụ, đạt 82,8%, vượt chỉ tiêu 2,8%. Qua kiểm sát đã yêu cầu khởi tố 13 vụ/22 bị can; Cơ quan điều tra đã khởi tố 10 vụ/19 bị can (Hiện còn 02 vụ đang xem xét khởi tố, 01 vụ chờ kết quả trả lời thỉnh thị). Viện kiểm sát đã không phê chuẩn bắt khẩn cấp 01 trường hợp; hủy bỏ quyết định tạm giữ 02 trường hợp theo quy định của pháp luật và yêu cầu bắt tạm giam 04 bị can, đều được Cơ quan điều tra chấp nhận thực hiện.
- Tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra là 0,74% (05 vụ/15 bị can); Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung 1,13% (13 vụ, trong đó có 04 vụ không chấp nhận). Tổng tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là 1,87%, vượt chỉ tiêu của Ngành là 4,13%.
- Đã tổng hợp, ban hành 08 kiến nghị yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm tố tụng trong quá trình giải quyết án, các kiến nghị đều được Cơ quan điều tra tiếp thu thực hiện nghiêm túc; ban hành 11 kiến nghị yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm, tội phạm.
- Các trường hợp đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra, không khởi tố vụ án đều được kiểm sát chặt chẽ, các hồ sơ của cấp huyện đều được phòng nghiệp vụ thẩm định lại; đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo khởi tố vụ án, khởi tố bị can (như vụ cướp tài sản ở huyện Phong Điền, vụ cố ý gây thương tích ở huyện Quảng Điền,…). Chú ý việc tổng hợp vi phạm của Viện kiểm sát cấp huyện, nhất là qua kiểm tra các quyết định tố tụng, đã ban hành 10 thông báo rút kinh nghiệm, tăng 08 thông báo và hoàn thành chỉ tiêu năm 2014.
- Trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra được tăng cường, gắn công tố với hoạt động điều tra ngay từ đầu nên công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự đã đạt được những kết quả nhất định trong việc bảo vệ cáo trạng, tranh tụng tại phiên tòa, các đề xuất, quan điểm xử lý vụ án của Viện kiểm sát nghiêm minh, đúng pháp luật và cơ bản được Hội đồng xét xử chấp nhận. Số bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên sửa, hủy thấp. Đã ban hành 17 kháng nghị phúc thẩm; đã báo cáo và được VKSND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm hủy 02 vụ án/03 bị cáo, đã xét xử chấp nhận 01 kháng nghị (còn 01 vụ chưa xét xử). Tỷ lệ xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát 09/11 vụ đạt 82%, vượt 12% chỉ tiêu của Ngành và 2% chỉ tiêu của Viện kiểm sát đề ra (Ngành là 70%, VKSND tỉnh 80%). Không để xảy ra trường hợp Tòa án tuyên không phạm tội.
Tóm lại:Xác định tầm quan trọng củaChỉ thị số 06 của Viện trưởng VKSND tối cao và Nghị quyết số 63 của Quốc hội, VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế đã thường xuyên quán triệt cho cán bộ, Kiểm sát viên thấy được vai trò, vị trí, trách nhiệm của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự. Đồng thời triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, sát thực, cụ thể như: Tổ chức giao ban định kỳ để kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, định hướng giải quyết, xử lý từng vụ việc cụ thể; tăng cường công tác phát hiện sai sót kịp thời hướng dẫn, khắc phục, tổng hợp rút kinh nghiệm; xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ liên quan đến công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, trong xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; chủ động, đa dạng các phương thức phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ của Kiểm sát viên và Điều tra viên trong từng vụ án; nêu cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Phát huy, tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương đối với ngành Kiểm sát, đặc biệt là trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của Chỉ thị số 06 và Nghị quyết số 63 là thực hiện tốt chủ trương “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra ” nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, kiên quyết không để xảy ra oan, sai.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ VIỆC
 ĐÌNH CHỈ BỊ CAN DO HÀNH VI KHÔNG CẤU THÀNH TỘI PHẠM
VÀ KHẮC PHỤC VIỆC LẠM DỤNG ĐÌNH CHỈ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO KHOẢN 1, ĐIỀU 25 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
 
VKSND thành phố Hồ Chí Minh
 
Đình chỉ bị can do hành vi không cấu thành tội phạm được quy định tại Khoản 2, Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự với mục đích bảo đảm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm công minh, không để lọt tội phạm và cũng không làm oan người vô tội; còn Khoản 1, Điều 25 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa nhằm mục đích thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự.
Hàng năm, Viện kiểm sát 2 cấp của thành phố Hồ Chí Minh thụ lý kiểm sát khoảng 12.000-13.000 vụ án hình sự (chiếm 1/6 cả nước), nhiều vụ việc có tính chất phức tạp, luôn là địa phương đầu tiên xuất hiện các loại tội phạm mới như tội phạm về công nghệ cao, tội phạm về chứng khoán… nên việc đánh giá chứng cứ, định tội danh gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc đình chỉ bị can theo Khoản 2, Điều 107 BLTTHS và Khoản 1, Điều 25 BLHS.
Xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị và để hạn chế thấp nhất việc đình chỉ bị can theo Khoản 2, Điều 107 BLTTHS và việc lạm dụng đình chỉ miễn TNHS theo Khoản 1, Điều 25 BLHS nhằm thực tốt nhiệm vụ trọng tâm của Ngành là “Tăng cường các biện pháp chống oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm”, lãnh đạo VKSND thành phố đã chỉ đạo tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo tinh thầnChỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng VKSND tối cao; nâng cao trách nhiệm trong việc phê chuẩn các lệnh, quyết định của CQĐT; kiểm sát chặt chẽ các trường hợp đình chỉ điều tra để bảo đảm có căn cứ, đúng pháp luật. Xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá của VKSND thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, số bị can phải đình chỉ giảm dần qua từng năm. Cụ thể: trong giai đoạn 2008-2010, mỗi năm CQĐT 2 cấp đình chỉ trung bình khoảng 60 trường hợp, VKS 2 cấp đình chỉ khoảng 50 trường hợp theo Khoản 1, Điều 25 BLHS, đến năm 2013 giảm xuống còn 37 trường hợp (giảm 38,3%), năm 2014 còn 39 trường hợp (giảm 35%); đặc biệt trong năm 2014 không có trường hợp nào đình chỉ theo Khoản 2, Điều 107 BLTTHS. Qua kiểm tra nhận thấy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đình chỉ bị can do hành vi không cấu thành tội phạm và việc lạm dụng đình chỉ miễn TNHS là:
Thứ nhất, về nguyên nhân khách quan:
- Nhiều điều luật có cấu thành cơ bản không rõ ràng, trong khi đó chưa có văn bản hướng dẫn của liên ngành Trung ương dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau nên sau khi khởi tố thì không truy tố, xét xử được.
Ví dụ, khoản 1 Điều 140 BLHS tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” không hướng dẫn như thế nào là “bỏ trốn để chiếm đoạt”. Trốn đối với ai? Trốn đối với chủ nợ hay trốn đối với Cơ quan điều tra? Căn cứ để xác nhận là một người đã bỏ trốn, thẩm quyền xác nhận một người đã bỏ trốn khỏi địa phương (Công an nơi đối tượng cư trú thường chỉ xác nhận “Không có mặt tại địa phương”). Dẫn đến nhiều trường hợp không khởi tố thì có dấu hiệu “lọt” mà khởi tố thì khó xử lý. Hoặc đối với nhóm tội về chức vụ, không có hướng dẫn cụ thể về “người có chức vụ, quyền hạn” ở các doanh nghiệp cổ phần có vốn góp nhà nước và không có vốn góp nhà nước có được xem là chủ thể của các tội thuộc Chương XXI các tội phạm về chức vụ hay không, khi họ thực hiện hành vi trái pháp luật như những cán bộ công chức ở cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước; hoặc đối với các tội phạm gây thiệt hại hoặc chiếm đoạt tài sản của các doanh nghiệp có vốn góp nhà nước như tội “Cố ý làm trái, quy định của nhà nước…” theo Điều 165, tội “Tham ô tài sản” theo Điều 278, khi xác định thiệt hại sẽ xác định trên phần vốn góp của nhà nước hay của toàn bộ tài sản bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
- Việc lạm dụng Khoản 1, Điều 25 BLHS do bản thân điều luật này chưa rõ ràng vì điều luật quy định tới hai nội dung là “do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”“do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Vấn đề đặt ra là, thế nào là sự chuyển biến của tình hình? Trường hợp nào thì được coi là người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa? Do tình hình xã hội thay đổi họ không còn nguy hiểm hay do  bản thân người phạm tội đã nỗ lực thay đổi và thể hiện rõ sự thay đổi này. Điều luật quy định chưa rõ ràng dẫn đến sự ngộ nhận của người vận dụng pháp luật. Ví dụ, trường hợp bị can phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, nhưng sau khi bị khởi tố đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; khắc phục toàn bộ hậu quả, thậm chí còn vay mượn, tự nguyện bồi thường cho bị hại cả những thiệt hại gián tiếp. Trong trường hợp này có đơn vị vẫn tiến hành xét xử và xem xét những tình tiết trên là tình tiết giảm nhẹ. Nhưng có cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng tình tiết “do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” để đình chỉ theo Khoản 1, Điều 25. Điều này thể hiện sự thiếu thống nhất trong áp dụng luật và cũng là một trong những nguyên nhân lạm dụng khoản 1, Điều 25 BLHS.
Thứ hai, về nguyên nhân chủ quan:
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Điều tra viên, Kiểm sát viên còn ít nhiều hạn chế, tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu tận tụy với công việc. Một số trường hợp, KSV chưa chủ động phối hợp tốt với CQĐT ngay từ khi phát hiện tội phạm và trong suốt quá trình điều tra, còn phụ thuộc nhiều vào kết quả điều tra, chỉ tập trung vào chứng cứ buộc tội mà thiếu quan tâm, chú ý các chứng cứ gỡ tội… nên việc phê chuẩn các quyết định tố tụng của CQĐT thiếu chặt chẽ, dẫn đến phải đình chỉ.
- Một nguyên nhân khác dẫn đến việc đình chỉ theo Khoản 1, Điều 25 bị lạm dụng là đơn vị cấp trên chưa có kế hoạch kiểm tra định kỳ án đình chỉ của cấp dưới để có biện pháp chấn chỉnh và tổ chức rút kinh nghiệm kịp thời.
 Ví dụ, hiện nay mẫu Quyết định đình chỉ đã được VKSND tối cao ban hành, theo đó, phải thể hiện rõ lý do, căn cứ đình chỉ. Tuy nhiên, có trường hợp khi phát hiện oan sai, né tránh đình chỉ theo Khoản 2 Điều 107 bằng cách Quyết định đình chỉ ghi chung chung, không phân tích nguyên nhân dẫn đến đình chỉ; thậm chí nội dung trong một quyết định mâu thuẫn với nhau. Điển hình như vụ Trương Hùng Dũng bị khởi tố về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”, theo quy định tại Điều 135, BLHS. Tại Quyết định đình chỉ nhận định “Dũng cùng đồng phạm hăm dọa, chiếm đoạt tài sản của họ” nhưng lại xét thấy “Hành vi phạm tội của Trương Hùng Dũng không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” và căn cứ Khoản 1, Điều 25 BLHS đình chỉ. Việc vi phạm này chưa có chế tài để xử lý dứt điểm.
- Ngoài ra, do tâm lý né tránh, sợ khuyết điểm, sợ trách nhiệm, do thành tích thi đua… của Điều tra viên, Kiểm sát viên dẫn đến lạm dụng Khoản 1, Điều 25 BLHS để đình chỉ.
Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót nêu trên, VKSND thành phố Hồ Chí Minh đề ra  một số giải pháp và kiến nghị như sau:
1. Về giải pháp
Một là, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 06 của Viện trưởng VKSND tối cao về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm”; thực hiện tốt Thông tư liên tịch số 06 của liên ngành Trung ương và Quyết định số 422 ngày 17/10/2014 của Viện trưởng VKSND tối cao ban hành Quy chế công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; chủ động phối hợp chặt chẽ với CQĐT ngay từ khi phát hiện tội phạm và trong suốt quá trình điều tra; kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, củng cố cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội; giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh theo đúng quy định Quy chế phối hợp liên ngành trong công tác điều tra, truy tố, xét xử án hình sự (Quy chế số 29/QCLN-CA-VKS-TA ngày 08/12/2012); hạn chế dần và tiến tới chấm dứt việc phụ thuộc vào kết quả điều tra của CQĐT; bảo đảm việc khởi tố, điều tra, truy tố có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra trường hợp oan, sai dẫn đến phải đình chỉ. Do đó, trong những năm gần đây việc đình chỉ điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm gần như đã được khắc phục triệt để.
Hai là, ý thức trách nhiệm, bản lĩnh nghề nghiệp  của đội ngũ cán bộ, KSV luôn được đặt lên hàng đầu; trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn được giao, nếu đơn vị để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm thì trước hết Thủ trưởng đơn vị, Viện trưởng VKSND quận, huyện đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và Viện trưởng VKSND thành phố.
Ba là, ngoài việc các đơn vị phải chủ động kiểm tra án đình chỉ theo khoản 2, Điều 107 BLTTHS và khoản 1, Điều 25 BLHS, còn chỉ đạo ngay khi phát sinh các trường hợp này các đơn vị phải báo cáo VKSND thành phố để thẩm tra, kịp thời yêu cầu khắc phục thiếu sót, vi phạm, ban hành thông báo rút kinh nghiệm chung; xử lý nghiêm đối với những trường hợp né tránh trách nhiệm, cố tình áp dụng sai điều luật.
Bốn là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng để góp phần nâng cao kỹ năng về công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự cho đội ngũ cán bộ, KSV; một năm mỗi KSV phải có ít nhất 01 phiên tòa rút kinh nghiệm, có điểm thưởng, có điểm trừ cụ thể cho từng vụ nên bắt buộc các KSV phải phấn đấu vươn lên, tự nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác.
Năm là, chủ động nắm vững những chuyển biến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và chính sách pháp luật của nhà nước mới ban hành để kịp thời quán triệt vận dụng trong khi chưa có hướng dẫn cụ thể. Điển hình, thời gian qua khi Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung) vừa được ban hành, VKSND thành phố đã chủ động nghiên cứu phố biến, quán triệt trước nên khi VKSND tối cao ban hành hướng dẫn thì việc thực hiện rất thuận lợi, hạn chế đáng kể việc đình chỉ miễn TNHS.
2. Kiến nghị
Thứ nhất, kiến nghị liên ngành Trung ương sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành Khoản 1, Điều 25 BLHS, xác định rõ như thế nào là có sự chuyển biến của tình hình, như thế nào hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Thứ hai, liên ngành Trung ương cần sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành các điều luật có cấu thành cơ bản không rõ ràng, dễ gây hiểu nhầm, dễ tùy tiện trong áp dụng như Khoản 1, Điều 140 BLHS tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” cần hướng dẫn như thế nào là “bỏ trốn để chiếm đoạt”. Đối với các tội phạm về chức vụ (Chương XXI, BLHS) cần hướng dẫn cụ thể những người có chức vụ, quyền hạn ở các doanh nghiệp cổ phần hóa có vốn góp nhà nước và không có vốn góp nhà nước có được xem là chủ thể của các tội phạm thuộc chương này hay không? Đối với nhóm tội phạm gây thiệt hại hoặc chiếm đoạt tài sản của các doanh nghiệp có vốn góp nhà nước, khi xác định thiệt hại sẽ xác định trên phần vốn góp của nhà nước hay của toàn bộ tài sản. Đối với tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”  quy định tại Điều 267 BLHS cần hướng dẫn cụ thể các doanh nghiệp không có vốn góp của nhà nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, tổ chức nước ngoài đặt trên lãnh thổ Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội nghề nghiệp có phải là cơ quan tổ chức để xử lý đối với tội này hay không; hành vi làm giả con dấu, tài liệu của các doanh nghiệp, tổ chức này có bị coi là phạm tội theo Điều 267 BLHS hay không?
 
 
MỘT SỐ KINH NGHIỆM NHẰM HẠN CHẾ VIỆC TÒA ÁN
 TUYÊN BỊ CÁO KHÔNG PHẠM TỘI HOẶC NHỮNG BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH BỊ SỬA, HỦY CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM
CỦA VIỆN KIỂM SÁT
                                                        
 
                                                                 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
 
Năm 2014, là năm thứ 18 liên tiếp kể từ khi tái lập (năm 1997), trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh không có trường hợp nào Viện kiểm sát truy tố mà Tòa án tuyên không phạm tội; số vụ án hình sự bị hủy, cải sửa chiếm tỷ lệ thấp và giảm dần theo thời gian. Năm 2014, Tòa án hủy 3 vụ/5 bị cáo (tỷ lệ 0,29%); sửa án 83 bị cáo (tỷ lệ 3,39%), trong đó: giảm hình phạt 25 bị cáo; cho hưởng án treo 49 bị cáo; sửa phần trách nhiệm dân sự 09 bị cáo; tỷ lệ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thấp (tỷ lệ 1,66%, trong đó: Tòa án trả Viện kiểm sát để điều tra bổ sung tỷ lệ là 1,47; Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung  tỷ lệ 0,19%). Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh luôn đảm bảo việc điều tra, truy tố và xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Qua tổng kết thực tiễn, để hạn chế việc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội hoặc bị sửa, hủy có liên quan đến trách nhiệm của Viện kiểm sát, chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
- Một là, để không xảy ra việc Tòa án tuyên không phạm tội thì trước hết phải tăng cường công tác kiểm sát điều tra ngay từ đầu, nhất là khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, tức là phải vào cuộc sớm hơn, bảo đảm việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can có đầy đủ căn cứ khách quan. Để làm tốt công việc trên thì ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thì Kiểm sát viên được phân công phải tiến hành một số hoạt động nghiệp vụ như: cùng Điều tra viên lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng một số biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân. Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra chính là Kiểm sát viên đã được phân công kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm nhằm bảo đảm sự liên tục, thông khâu, tạo ra thuận lợi lớn cho Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
- Hai là, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra phải chủ động và tăng cường công tác kiểm sát điều tra; bám sát tiến độ điều tra, Kiểm sát viên phải cùng Điều tra viên xác định hướng điều tra và phải bám sát Điều tra viên trong suốt quá trình điều tra, phối hợp với Điều tra viên trong việc thu thập chứng cứ, bảo đảm chứng cứ được thu thập khách quan, toàn diện, đúng qui định của pháp luật. Trường hợp cần thiết thì yêu cầu điều tra làm rõ ngay, hoặc tự mình tham gia trực tiếp vào các hoạt động điều tra như: nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra, dựng lại hiện trường, trực tiếp hỏi cung, phúc cung… để Kiểm sát viên không chỉ nắm chắc hoạt động điều tra mà còn kịp thời phát hiện những vị phạm, thiếu sót, mâu thuẫn... trong quá trình điều tra vụ án, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản (năm 2014 đã đề ra 913 yêu cầu điều tra), nhằm bảo đảm việc điều tra khách quan, đầy đủ và đúng trình tự pháp luật, làm cơ sở cho việc khởi tố, truy tố đúng người, đúng tội.
Cần thay đổi quan niệm cho rằng hoạt động điều tra, chứng minh tội phạm chỉ là của Cơ quan điều tra, mà phải xác định trách nhiệm của Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra là để bảo đảm việc điều tra, thu thập chứng cứ được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, đó chính là trách nhiệm của Kiểm sát viên, của Viện kiểm sát. Điều đó có nghĩa là Viện kiểm sát phải tham gia trực tiếp hơn vào quá trình điều tra vụ án hình sự, gắn với hoạt động điều tra.
- Ba là, việc truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử nhất thiết phải dựa trên cơ sở đánh giá khách quan, đầy đủ, toàn diện chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội; không được xem nhẹ chứng cứ gỡ tội và cũng không được lệ thuộc vào lời nhận tội của bị can. Có nghĩa là lời nhận tội của bị can chỉ được coi là chứng cứ khi nó phù hợp với các chứng cứ khác. Chú ý làm rõ những điểm mâu thuẫn trong lời khai của bị can và mối liên hệ giữa lời khai của bị can với các nguồn chứng cứ khác; tránh tình trạng đánh giá chứng cứ nặng về cảm tính, suy diễn chủ quan, áp đặt dẫn đến xử lý oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
- Bốn là, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phải làm tốt công tác chuẩn bị, dựa trên cơ sở nắm chắc, đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết liên quan đến vụ án; chủ động tham gia quá trình tranh luận, tranh tụng… để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, làm rõ cơ sở, căn cứ để Viện kiểm sát truy tố ra trước Tòa. Sẵn sàng cho tình huống phản cung, thay đổi lời khai…
Kiểm sát chặt chẽ hoạt động của Hội đồng xét xử, biên bản phiên tòa, bản án... Kiểm sát viên vừa phải làm tốt chức năng thực hành quyền công tố đồng thời thực hiện tốt việc kiểm sát xét xử, kịp thời phát hiện vi phạm... để kịp thời yêu cầu HĐXX khắc phục, hoãn phiên toà hoặc kháng nghị phúc thẩm nếu vụ án đã được xét xử.
- Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn và tổ chức rút kinh nghiệm nghiệp vụ. Một mặt, tổ chức nghiêm túc việc nghiên cứu rút kinh nghiệm thông qua các thông báo rút kinh nghiệm nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, vì đây là những vẫn đề thực tiễn rất quý giá, hữu ích. Mặt khác, quan tâm thường xuyên, liên tục, sáng tạo việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm trong đơn vị. Trong năm 2014, Viện kiểm sát hai cấp đã phối hợp với Tòa án cùng cấp tổ chức 67 phiên tòa hình sự cho các Kiểm sát viên tham dự rút kinh nghiệm (đạt tỷ lệ 1,36 phiên tòa/01 Kiểm sát viên làm công tác hình sự); trong đó, Lãnh đạo Viện kiểm sát tỉnh đã lựa chọn 23 phiên tòa điển hình của các đơn vị để trực tiếp tham dự và chủ trì rút kinh nghiệm sau khi kết thúc phiên tòa; đồng thời giao Phòng 3 tổng hợp, có thông báo rút kinh nghiệm chung. Qua tổng hợp, Phòng 3 Viện tỉnh đã ban hành 23 văn bản thông báo để các đơn vị trong ngành cùng tham khảo rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; còn lại 44 phiên toà do các đơn vị tự tổ chức rút kinh nghiệm. Việc tổ chức rút kinh nghiệm đối với các Kiểm sát viên về việc thực hiện chức năng nhiệm vụ trong các giai đoạn của quá trình tố tụng được phản ánh tập trung và cụ thể qua việc bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát tại phiên tòa. Việc phân tích, đánh giá, nhận xét của Lãnh đạo Viện, các phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát tỉnh và ý kiến của các Kiểm sát viên tham dự phiên tòa có ý nghĩa thực tiễn bổ ích để các Kiểm sát viên học tập, trao đổi và rút kinh nghiệm nhằm từng bước vững chắc, nâng cao năng lực và kỹ năng nghiệp vụ.
Thường xuyên, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Trong năm, đã tiến hành 14 cuộc kiểm tra việc thực hiện Kế họach công tác năm 2014; các phòng nghiệp vụ đã ban hành 18 thông báo rút kinh nghiệm về nghiệp vụ trong lĩnh vực hình sự, trả lời thỉnh thị kịp thời, giải đáp, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử của các VKSND cấp huyện.
- Sáu là, về công tác cán bộ, VKSND tỉnh Bắc Ninh luôn đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và của Kiểm sát viên. Lãnh đạo đơn vị phải quan tâm, chỉ đạo, kiểm tra với tác phong sâu sát, cụ thể, kịp thời và điều hành quyết liệt. Phải luôn xác định mình phải chịu trách nhiệm trước hết về mọi điều xảy ra trong đơn vị. Kiểm sát viên khi đề xuất phê duyệt các quyết định tố tụng, dự thảo Cáo trạng, báo cáo án, phải báo cáo đầy đủ, chi tiết các tình tiết, chứng cứ buộc tội, gỡ tội của vụ án. Đối với vụ án phức tạp, còn nhiều quan điểm khác nhau thì họp đơn vị, Ủy ban kiểm sát, tranh thủ ý kiến các cơ quan tố tụng, thỉnh thị ý kiến cấp trên rồi mới quyết định. Kinh nghiệm cho thấy ở đâu vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và Kiểm sát viên được đề cao và phát huy, thì ở đó chất lượng công tác kiểm sát được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, hạn chế sai phạm.
Quan tâm bố trí Kiểm sát viên có năng lực, phẩm chất, kinh nghiệm vào khâu công tác này và nhất là với những vụ án khó khăn, phức tạp nhằm bảo đảm có được các Kiểm sát viên giỏi, đủ sức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao đối với khâu công tác kiểm sát này.
- Bảy là, thường xuyên quan tâm đến công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng mà đặc biệt là đối với các vụ án phức tạp, khó khăn trong việc đánh giá chứng cứ hoặc khác quan điểm về tội danh…
Công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra, giữa Viện kiểm sát và Tòa án được duy trì, thực hiện tốt thông qua các quy định trong Quy chế phối hợp giải quyết án hình sự và Quy chế phối hợp liên ngành về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Trong hoạt động điều tra xử lý tội phạm, Kiểm sát viên phải tăng cường mối quan hệ phối hợp với Điều tra viên, chú trọng theo dõi chặt chẽ, nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, thường xuyên đôn đốc việc điều tra, kịp thời trao đổi, giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình điều tra để giải quyết vụ án đúng hạn luật định, hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong giai đoạn xét xử giữa Kiểm sát viên và Thẩm phán phải có sự trao đổi, trù bị, dự kiến các tình huống phát sinh tại phiên tòa, dự thảo luận tội, đề cương xét hỏi, dự thảo kịch bản xét xử. Đối với những vấn đề khó khăn, vướng mắc chưa được giải quyết, hoặc trường hợp không thống nhất quan điểm giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên, giữa Kiểm sát viên và Thẩm phán thì kịp thời báo cáo lãnh đạo hai ngành phối hợp thống nhất chỉ đạo giải quyết; vừa tuân thủ, tôn trọng chức năng, thẩm quyền, nhiệm vụ của từng cơ quan, vừa phối hợp hỗ trợ để mỗi cơ quan hoàn thành nhiệm vụ.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CÔNG TÁC PHỐI HỢP ĐẤU TRANH PHÒNG NGỪA VI PHẠM,
TỘI PHẠM ĐỂ THỰC HIỆN TỐT  HƠN CHỨC NĂNG,
NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH
VKSND tỉnh Quảng Bình
Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp, toàn ngành Kiểm sát quán triệt nhiệm vụ trọng tâm theo Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 02/01/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan tư pháp, các ngành có liên quan để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống vi phạm, tội phạm có hiệu quả, với mục tiêu giữ vững sự ổn định an ninh, chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Quán triệt tinh thần đó trong năm 2014 VKSND tỉnh Quảng Bình đã triển khai công tác kiểm sát tại địa phương, Ban cán sự Đảng, tập thể lãnh đạo, chỉ đạo toàn ngành Kiểm sát Quảng Bình nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao trên tất cả các lĩnh vực, kết quả thực hiện các chỉ tiêu công tác kiểm sát cơ bản đạt và vượt so với kế hoạch đề ra, trong đó: “Công tác phối hợp đấu tranh phòng ngừa vi phạm, tội phạm để thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của Ngành” được xem là một nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành Kiểm sát Quảng Bình.
1. Tình hình vi phạm, tội phạm:
Năm 2014 tình hình vi phạm, tội phạm xảy ra tại tỉnh Quảng Bình tiếp tục diễn biến phức tạp và tăng so với năm 2013, nổi lên một số loại tội như: giết người; hiếp dâm trẻ em; vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; tội phạm về ma túy; các tội phạm xâm phạm sở hữu, như cướp tài sản, trộm cắp tài sản vẫn tiếp tục xẩy ra với chiều hướng gia tăng.
 Án hình sự khởi tố mới: 533 vụ, 888 bị can, tăng 54 vụ, 81 bị can (11%) so với năm 2013. Trong đó, các vụ án xâm phạm quyền sở hữu, trật tự quản lý kinh tế đã  khởi tố điều tra 295 vụ/515 bị can, phần lớn là trộm cắp tài sản (chiếm 69,1% với 204 vụ mà đối tượng phạm tội đa số ở độ tuổi thanh niên). Đáng chú ý xuất hiện các băng nhóm tội phạm liên tỉnh cấu kết trộm cắp xe máy, đột nhập nhà dân, công sở phá két sắt để lấy tài sản; trộm thiết bị điện trạm biến áp, tổ chức cướp tài sản với trị giá tài sản chiếm đoạt lớn, có vụ gây thiệt hại trên 1,5 tỷ đồng...
Trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, khởi tố điều tra 186 vụ/293 bị can, tăng không nhiều so với năm 2013, nhưng có những vấn đề đáng chú ý như: Một số vụ cố ý gây thương tích có đông người dùng hung khí nguy hiểm chém nhau do những xích mích không lớn trong thanh niên nông thôn; tình trạng hiếp dâm trẻ em có nhược điểm về thể chất, tâm thần đã xảy ra một số nơi; một số vụ án giết người là người thân trong gia đình, trong cùng thôn xóm phản ánh sự xuống cấp về đạo đức; hành vi tàng trữ vận chuyển trái phép vật liệu nổ vẫn tiếp tục xẩy ra, nguồn vật liệu nổ chủ yếu do bom, đạn trong chiến tranh còn lại, có vụ nhiều người vận chuyển lên tới 670 kg thuốc nhằm bán kiếm tiền, chủ yếu dùng vào mục đích khai thác đá, đánh cá biển.
Tội phạm về ma tuý phát hiện khởi tố 45 vụ/66 bị can, không chỉ ở thành phố, thị xã mà đã lan rộng đến vùng nông thôn, các đối tượng phạm tội hầu hết con nghiện, đã tái phạm nhiều lần, việc đấu tranh xử lý có nhiều khó khăn phức tạp.
Tội phạm về tham nhũng và chức vụ xảy ra không nhiều. Trong năm 2014 toàn tỉnh chỉ phát hiện xử lý 06 vụ, 11 bị can, nhưng đáng lưu ý và nổi lên trong lĩnh vực xây dựng, nhiều nhà thầu cùng chủ đầu tư nghiệm thu khống khối lượng công trình để thanh toán chiếm dụng vốn đầu tư của Nhà nước gây thiệt hại cho Nhà nước hàng tỷ đồng.
2. Công tác phối hợp trong đấu tranh phòng chống vi phạm, tội phạm
- Trong công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: Thực hiện Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao, ngay từ đầu năm Viện kiểm sát tỉnh chỉ đạo các Phòng trực thuộc và Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố, thị xã chủ động thực hiện tốt công tác tiếp nhận và kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra hai cấp thực hiện đúng Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT của liên ngành. Công tác giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đã đi vào nề nếp, tất cả các tin báo về tội phạm đều được phân loại, thụ lý giải quyết, hạn chế bỏ lọt tội phạm, từng bước đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Thụ lý kiểm sát trong năm 2014: 1008 tin, tăng 448 tin so với năm 2013; đã giải quyết 911 tin báo, đạt 90,4%; còn 99 tin chưa giải quyết. Tiến hành kiểm sát trực tiếp 14 lần tại Cơ quan điều tra hai cấp, đã ban hành kiến nghị. Thông qua hoạt động kiểm sát, VKS đã yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố 10 vụ án, yêu cầu hủy bỏ quyết định không khởi tố 06 vụ (Bố Trạch 02; Đồng Hới 05; Quảng Ninh 02; Minh Hóa 01).
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự: Trong năm 2014, toàn ngành Kiểm sát tỉnh Quảng Bình thụ lý kiểm sát điều tra 627 vụ, 1061 bị can; Cơ quan điều tra đã giải quyết 532 vụ, 894 bị can, tỷ lệ giải quyết 85%. Viện kiểm sát thụ lý giải quyết 466 vụ, 843 bị can, trong đó truy tố: 457 vụ, 832 bị can. Tòa án thụ lý xét xử 650 vụ/ 1106 bị cáo; đã giải quyết 648 vụ/1103 bị can, tỷ lệ giải quyết đạt 99,6%.
Qua kiểm sát hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra 01 vụ/01 bị can về tội cố ý gây thương tích với lý do việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can không đủ căn cứ, bởi vì đối tượng thực hiện hành vi gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, bị hại chỉ tổn hại 10% sức khỏe cho nên không cấu thành tội phạm; VKS đã yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án 02 vụ án về vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và khởi tố bổ sung 04 bị can trong 02 vụ án; ban hành 09 kiến nghị yêu cầu cơ quan điều tra và các cơ quan hữu quan khắc phục vi phạm chủ yếu trong việc khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông, trộm cắp tài sản. Trong thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra Kiểm sát viên đã ra yêu cầu điều tra 100%, trong đó có nhiều vụ án phải thực hiện yêu cầu nhiều lần do quá trình điều tra phát hiện thêm đồng phạm.
Nhằm thực hiện tốt công tác phối hợp, phòng chống vi phạm, tội phạm có hiệu quả, trong quá trình THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự. Viện kiểm sát 02 cấp đã nghiên cứu, quán triệt thực hiện Quy chế phối hợp liên ngành về giải quyết án trọng điểm. Hàng tháng liên ngành Công an - Viện kiểm sát - Toà án thường xuyên họp bàn trao đổi, giải quyết những vướng mắc, những tồn tại, vi phạm trong công tác điều tra, xét xử án hình sự; kịp thời giải quyết dứt điểm những vụ án phức tạp dư luận quan tâm để phục vụ tình hình nhiệm vụ chính trị địa phương, mặt khác chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra và tháo gỡ những vướng mắc khi thực hiện Thông tư liên tịch 06 của liên ngành tư pháp Trung ương hướng dẫn quy định của BLTTHS trong công tác tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố; đồng thời phân công cụ thể các đơn vị thuộc VKS và Cơ quan điều tra phối hợp nghiên cứu xây dựng Quy chế quan hệ phối hợp trong công tác giải quyết án hình sự (Bao gồm: Các quy định trong công tác phối hợp giải quyết án trọng điểm, án có dư luận quan tâm, giải quyết tin báo tội phạm và những vướng mắc trong quá trình điều tra và kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự). Bên cạnh đó, nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa và làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật và phòng ngừa vi phạm, tội phạm, VKS duy trì phối hợp với cơ quan Tòa án và các cơ quan báo chí, truyền thông tổ chức nhiều phiên tòa lưu động, phiên tòa rút kinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp.
Trong năm, liên ngành Công an - Viện kiểm sát - Toà án, xác định 34 vụ án trọng điểm (chiếm tỷ lệ 6% so với án khởi tố mới trong kỳ). Các vụ án trọng điểm đều được điều tra, truy tố, xét xử kịp thời đảm bảo đúng quy định của pháp luật; Viện kiểm sát cùng với Cơ quan điều tra đã giải quyết một số vụ án phức tạp, dư luận quan tâm đảm bảo đúng pháp luật (01 vụ án hiếp dâm; 01 vụ cố ý gây thương tích; nhiều vụ cố ý gây thương tích có tình tiết phòng vệ chính đáng…) phối hợp trong điều tra đảm bảo tố tụng và thu thập đầy đủ chứng cứ, tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung chỉ chiếm 2%; phối hợp tổ chức 150 phiên tòa rút kinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp, trong đó xét xử lưu động 93 vụ tại địa phương nơi vụ án xảy ra; phối hợp thỉnh thị xin đường lối giải quyết dứt điểm vụ án vận chuyển vật liệu nổ trên 800kg theo Khoản 4 Điều 232 BLHS.
Đánh giá chung về công tác phối hợp
Với phương châm đổi mới trong công tác chỉ đạo điều hành, quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 01, Chỉ thị số 06 của Viện trưởng VKSTC, Nghị quyết số 37, Nghị quyết số 63 của Quốc hội và nhiệm vụ về cải cách tư pháp. Toàn ngành Kiểm sát Quảng Bình tập trung thực hiện tốt những nội dung tạo sự đột phá trong năm 2014; đã tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn chỉ đạo cấp huyện, phối hợp với cơ quan chức năng thực hiện tốt công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra; chủ động kịp thời phát hiện những vi phạm trong hoạt động tư pháp để kiến nghị yêu cầu khắc phục. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp trên địa bàn tỉnh, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ kết quả đạt được trên các khâu công tác. Các chỉ tiêu nghiệp vụ như ban hành kháng nghị, yêu cầu khởi tố, yêu cầu hủy quyết định không khởi tố vụ án, kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan yêu cầu khắc phục vi phạm đều đạt và vượt chỉ tiêu; nhờ đó số án đình chỉ trong lĩnh vực hình sự giảm đáng kể và không có trường hợp đình chỉ vì lý do không cấu thành tội phạm hoặc Tòa tuyên bị cáo không phạm tội. Đã chủ động phối hợp với Tòa án tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động, phiên tòa rút kinh nghiệm trong năm tăng so với năm 2013 là 56 vụ và giải quyết dứt điểm một số vụ án phức tạp dư luận quan tâm. Bên cạnh đó, công tác tổ chức cán bộ bước đầu đã kiện toàn bộ máy, tuyển dụng được một số cán bộ nghiệp vụ có chất lượng thông qua thi tuyển; quan tâm đên việc tổng kết, xây dựng các chuyên đề trong lĩnh vự hình sự và công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên.
Tuy đã có sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo VKSND tỉnh nhưng vẫn còn một số vụ án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung; việc phát hiện vi phạm của các bản án hình sự để kháng nghị phúc thẩm tỷ lệ đạt chưa cao.
3. Những vướng mắc và kiến nghị đề xuất
 Những vướng mắc
- Trong công tác đấu tranh phòng chống vi phạm, tội phạm còn nhiều bất cập trong quan hệ phối hợp giải quyết tin báo theo Thông tư liên tịch 06. Vẫn còn nhiều tin báo về tội phạm VKS chưa thể tiếp cận để nắm cụ thể tình hình vụ việc; việc theo dõi, quản lý tin báo của cơ quan điều tra và của những cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra chưa thật chặt chẽ, vẫn còn một số trường hợp giao cho Công an cấp xã quản lý tin báo nên chậm đưa vào thụ lý để kiểm tra, xác minh giải quyết. Không ít tin báo, thủ tục tiến hành xác minh chưa đúng quy định.
- Trong công tác phối hợp giải quyết án ma túy, việc hướng dẫn giải quyết của VKSNDTC và TANDTC chưa thống nhất, sau khi có công văn của Tòa án nhân dân tối cao về việc buộc phải giám định hàm lượng, thì cũng như các tỉnh bạn nhiều hồ sơ VKS truy tố, chuyển Tòa án bị trả lại, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án. Đối với những vụ án có người nước ngoài phạm tội, chưa có văn bản hướng dẫn về thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử và trình tự giải quyết, cho nên có vụ thì được chuyển cấp tỉnh giải quyết, có trường hợp điều tra xử lý ở cấp huyện, vì vậy cần phải có văn bản hướng dẫn thực hiện thông nhất, tránh chồng chéo, tùy tiện.
-  Một số loại tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về chức vụ, chưa được hướng dẫn về hậu quả thiệt hại, như gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặt biệt nghiêm trọng hoặc chiếm đoạt số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn… dẫn đến khó khăn trong việc định tội và định khung tăng nặng, vì vậy cần được hướng dẫn cụ thể để giải quyết thỏa đáng loại tội phạm này.
Kiến nghị, đề xuất
Tiếp tục thực hiện tốt công tác cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, nhằm tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra. Đề nghị liên ngành Trung ương ban hành thông tư hướng dẫn về thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử đối với người nước ngoại phạm tội tại Việt Nam; hướng dẫn đối với các tội phạm về trật tự quản lý kinh tế, chức vụ v.v.
 
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỐ LƯỢNG,
CHẤT LƯỢNG KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM ÁN HÌNH SỰ
 
 
Viện phúc thẩm 2, VKSND tối cao
 
Kháng nghị phúc thẩm là một quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước đã giao cho VKSND và duy nhất chỉ có VKSND mới có quyền kháng nghị đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND nhằm khắc phục, loại bỏ vi phạm pháp luật của bản án sơ thẩm, đảm bảo việc xử lý tội phạm và người phạm tội được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Kháng nghị phúc thẩm án hình sự cũng là một biện pháp nghiệp vụ quan trọng để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của Ngành, thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ góp phần quan trọng trong việc khẳng định và nâng cao vị thế của ngành Kiểm sát trong hệ thống các cơ quan tư pháp.
Những năm qua, nhất là từ khi có Chỉ thị số 03 ngày 19/6/2008 của Viện trưởng VKSNDTC “về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự” thì nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự đã được nâng lên rõ rệt. Các cấp Kiểm sát đã xác định công tác kháng nghị phúc thẩm nói chung và kháng nghị phúc thẩm án hình sự nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nhiều đơn vị đã đề ra những biện pháp hữu hiệu, thiết thực nhằm nâng cao về số lượng và chất lượng của các bản kháng nghị phúc thẩm.
Nếu như trước khi có Chỉ thị 03, mỗi năm cả nước ban hành bình quân 800-900 vụ, thì hiện nay hàng năm toàn Ngành đã ban hành hơn 1.000 bản kháng nghị hình sự, chất lượng kháng nghị cũng đã tăng rõ rệt. Theo báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 03 thì kháng nghị được Tòa án chấp nhận chiếm tỷ lệ 77% (trong khi yêu cầu của Quốc hội nêu trong Nghị quyết 37 là 70%), điều này đã ghi nhận nỗ lực của toàn Ngành trong việc nghiên cứu nội dung các bản án, nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án, đảm bảo kháng nghị có căn cứ được Tòa án chấp nhận.
Rất nhiều dạng vi phạm đã được phát hiện và kháng nghị kịp thời, nội dung kháng nghị chủ yếu tập trung vào các yêu cầu sau:
- Kháng nghị yêu cầu áp dụng thêm hoặc bỏ bớt tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và kháng nghị tăng, giảm hình phạt chiếm tỷ lệ cao nhất (từ 70-80%).
- Kháng nghị áp dụng hình phạt, chuyển hình phạt, chuyển từ tù giam sang tù nhưng cho hưởng án treo và ngược lại (chiếm 15-20%).
- Kháng nghị về tội danh và kháng nghị hủy bản án sơ thẩm do có vi phạm về thủ tục tố tụng (chiếm 10-15%).
Đối với Viện phúc thẩm 2, sau khi có Chỉ thị 03 của Viện trưởng VKSNDTC, đơn vị đã tổ chức triển khai đến từng cán bộ công chức trong đơn vị, xác định cụ thể những công việc cần phải thực hiện để đảm bảo thực hiện tốt Chỉ thị của đồng chí Viện trưởng VKSNDTC. Đơn vị đã xây dựng được hệ thống chỉ tiêu cụ thể đến từng phòng nghiệp vụ và xác định đây là  một tiêu chí quan trọng để bình xét thi đua hàng năm, các chỉ tiêu được xây dựng gồm chỉ tiêu về số lượng, chất lượng kháng nghị, chỉ tiêu về thông báo rút kinh nghiệm nghiệp vụ, chỉ tiêu vầ kiểm tra, đôn đốc các VKS trong khu vực về công tác kháng nghị…, đồng thời đơn vị cũng đã phân công cán bộ làm tốt các nội dung công việc đã nêu trong Chỉ thị 03 như mở sổ theo dõi vi phạm trong hoạt động tư pháp, sổ theo dõi án văn, định kỳ hàng tháng, hành quý, 6 tháng, 1 năm đều có thông báo đến tất cả các tỉnh, thành phố trong khu vực về công tác kháng nghị phúc thẩm kịp thời chấn chỉnh các đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Viện trưởng VKSNDTC như không gửi bản án cho cấp phúc thẩm hoặc có gửi bản án nhưng quá thời hạn quy định, không lập phiếu kiểm sát hoặc có lập nhưng không đúng mẫu hoặc đã kiểm sát bản án nhưng không phát hiện được vi phạm trong bản án v.v… Nhờ đó công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự đã dần đi vào nề nếp.
Một số bản kháng nghị có chất lượng như:
Vụ Đinh Long Nhựtphạm tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”:
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2011/HSST ngày 03-6-2011, TAND tỉnh Quảng Nam đã áp dụng Khoản 1 Điều 96; điểm b,p Khoản l Khoản 2 Điều 46 BLHS xử phạt Đinh Long Nhựt 18 tháng tù về tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.
Qua nghiên cứu bản án sơ thẩm, Viện trưởng Viện phúc thẩm 2 đã kháng nghị bản án trên, đề nghị Toà phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng xét xử Đinh Long Nhựt về tội “Giết người” theo Khoản 2 Điều 93 BLHS.
Bản án hình sự phúc thẩm số 293/HSPT ngày 04-8-2011 của Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đã chấp nhận kháng nghị, áp dụng Khoản 2, Điều 93 BLHS xử phạt Đinh Long Nhựt 07 năm tù về tội “Giết người” (tăng hơn 4 lần so với mức án sơ thẩm đã tuyên).
Vụ Phạm Hữu Quyền phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép vật liệu nổ”.
Tại bản án sơ thẩm số 03 ngày 09/3/2013 TAND tỉnh Quảng Nam đã áp dụng Khoản 1 Điều 107 BLHS, Khoản 1 Điều 227 BLTTHS tuyên bố Phạm Hữu Quyền không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và không phạm tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”, tuyên bố trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị mức án cho cả hai tội đối với bị cáo là 12 - 13 năm tù. Qua nghiên cứu bản án và trao đổi thống nhất với Viện phúc thẩm 2, Viện trưởng VSKND tỉnh Quảng Nam đã kháng nghị bản án nêu trên đối với bị cáo Phạm Hữu Quyền. Bản án phúc thẩm hình sự số 229 ngày 10/7/2013 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng đã chấp nhận toàn bộ kháng nghị, tuyên hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại. TAND tỉnh Quảng Nam đã xét xử lại vụ án và đã tuyên Phạm Hữu Quyền phạm cả 02 tội như nội dung kháng nghị.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót.
- Sau hơn 6 năm thực hiện Chỉ thị 03 về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm nhưng tình trạng Viện kiểm sát cấp dưới không gửi hoặc gửi quá hạn bản án sơ thẩm cho Viện kiểm sát cấp trên còn phổ biến, nhiều bản án không được kiểm sát và lập phiếu kiểm sát theo quy định của ngành.
- Tình trạng Toà án cấp sơ thẩm vi phạm về thời hạn trong việc gửi bản án, quyết định sơ thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp xảy ra rất phổ biến nhưng nhiều đơn vị không có sự trao đổi hoặc kiến nghị yêu cầu Toà án khắc phục đảm bảo thực hiện đúng theo quy định tại Điều 229 BLTTHS.
- Số lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự có xu hướng tăng nhưng vẫn chiếm tỷ lệ không lớn so với tổng số án bị hủy, sửa, điều đó cho thấy còn nhiều vi phạm của bản án sơ thẩm chưa được phát hiện và kháng nghị kịp thời. Tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 03 của Viện trưởng VKSNDTC đã cho thấy vào thời điểm báo cáo có đến 9 VKSND cấp tỉnh và 278 VKSND cấp huyện không có kháng nghị cùng cấp.
- Vềchất lượng kháng nghị, nhiều bản kháng nghị không sởpháp nên VKS cấp phúc thẩm phải rút. Nhiều kháng nghị chưa bám sát vào các căn cứ để kháng nghị, kháng nghị còn chung chung, chưa tập trung phân tích làm rõ căn cứ, cơ sở của việc kháng nghị. Đáng chú ý là có trường hợp chưa nghiên cứu kỹ quy định về thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm nên khi Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội, Viện kiểm sát lại kháng nghị đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo có tội (theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 250 BLTTHS thì VKS chỉ có quyền kháng nghị huỷ án sơ thẩm), có vụ án khi nhận được bản án sơ thẩm thì vẫn còn thời hạn để kháng nghị phúc thẩm nhưng VKSND cấp tỉnh đã không ban hành kháng nghị mà lại làm công văn đề nghị Viện phúc thẩm kháng nghị.
Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót:
- Tuy đã có quan tâm hơn đến công tác kháng nghị phúc thẩm nhưng vẫn có địa phương chưa chú trọng đúng mức khâu công tác này, chưa chủ động và tích cực tìm biện pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm.
- Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác kiểm sát xét xử hình sự nhìn chung là không đồng đều.
 
- Chưa có chế tài đủ mạnh đối với các đơn vị không thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 03, nên mặc dù được nhắc nhở nhiều lần nhưng rất nhiều đơn vị không thực hiện nghiêm túc việc gửi bản án và lập phiếu kiểm sát bản án.
- Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp kiểm sát nên tình trạng VKS cấp trên rút kháng nghị của VKS cấp dưới vẫn còn nhiều.
- Ngoài những nguyên nhân mang tính chủ quan nêu trên cũng cần kể đến một số nguyên nhân khách quan như hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, căn cứ để kháng nghị phúc thẩm chưa được quy định cụ thể trong BLTTHS nên đã gây những khó khăn nhất định trong việc kháng nghị và bảo vệ kháng nghị tại các phiên tòa phúc thẩm. Việc Toà án cấp sơ thẩm vi phạm trong việc gửi bản án cho VKS xảy ra phổ biến trên toàn quốc, VKS các cấp đã có kiến nghị nhưng tình trạng này chưa được khắc phục cũng là một nguyên nhân làm giảm hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm.
Để phát huy những việc làm được, khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:
Một là, Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến công tác kháng nghị phúc thẩm. Hiện nay, ngành Kiểm sát được giao chủ trì soạn thảo BLTTHS, qua nhiều lần nghiên cứu và tham gia góp ý chúng tôi đồng tình rất cao về những nội dung mới được nêu trong dự thảo có liên quan đến công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự như quy định TAND sơ thẩm phải gửi bản án sơ thẩm cho VKS cấp trên trực tiếp, quy định rõ về thẩm quyền kháng nghị chuyển từ án treo sang tù giam, kháng nghị áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo; quy định về việc thay đổi, bổ sung và rút kháng nghị của VKS. Những quy định trên trong dự thảo BLTTHS (sửa đổi) lần này chắc chắn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kháng nghị phúc thẩm trong thời gian tới. Tuy nhiên, theo chúng tôi cần phải tiếp tục nghiên cứu để đề xuất sửa đổi đạo luật khác có liên quan đến công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, như sửa đổi BLHS theo hướng thu hẹp khoảng cách giữa mức thấp nhất và mức cao nhất trong một khung hình phạt để tránh tình trạng tùy tiện khi xét xử; hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các tình tiết định khung như “gây hậu quả nghiêm trọng”, “hậu quả rất nghiêm trọng”, “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” có trong các điều luật để làm cơ sở cho việc xem xét kháng nghị phúc thẩm.
Hai là, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm sát xét xử án hình sự.
Để làm tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, ngoài tinh thần trách nhiệm trong công việc đòi hỏi Kiểm sát viên phải có kiến thức sâu rộng về luật hình sự, tố tụng hình sự và các ngành luật có liên quan trực tiếp đến vụ án đang nghiên cứu. Để có được đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu trên cần nâng cao chất lượng của các cơ sở đào tạo trong Ngành, chương trình đào tạo phải gắn với thực tiễn công tác kiểm sát. Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn để rút ra những kinh nghiệm tốt và phổ biến nhân rộng trong toàn Ngành. Nâng cao chất lượng của các cuộc hội thảo, hội nghị  tập huấn về công tác kháng nghị phúc thẩm nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn công tác. Bố trí những Kiểm sát viên có năng lực làm công tác kiểm sát xét xử để đảm bảo tất cả các vi phạm trong bản án sơ thẩm đều được phát hiện và kháng nghị, kiến nghị theo đúng quy định của pháp luật và Quy chế công tác của ngành Kiểm sát.
Ba là, Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữ các cấp Kiểm sát.
Trong công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự, mối quan hệ giữa các cấp Kiểm sát không đơn thuần chỉ là quan hệ cấp trên cấp dưới  mà là quan hệ giữa đơn vị kháng nghị và đơn vị bảo vệ kháng nghị tại Tòa, do đó để đảm bảo cho một bản kháng nghị được bảo vệ thành công tại phiên tòa phúc thẩm thì việc tăng cường mối quan hệ giữa VKS cấp sơ thẩm và VKS cấp phúc thẩm là rất quan trọng và cần thiết.
Rất nhiều công việc thể hiện mối quan hệ phối hợp giữa các cấp Kiểm sát đã phát huy hiệu quả trong thực tế như: VKS cấp dưới báo cáo để VKS cấp trên ban hành kháng nghị phúc thẩm khi thời hạn kháng nghị của VKS cấp dưới đã hết, hay VKS cấp dưới báo cáo VKS cấp trên về nội dung vụ án, về vi phạm của bản án sơ thẩm, những căn cứ pháp luật được áp dụng để kháng nghị, tạo điều kiện thuận lợi cho cấp phúc thẩm trong việc bảo vệ kháng nghị. Trong những trường hợp đặc biệt VKS cấp dưới có thể chuyển hồ sơ kiểm sát cho VKS cấp trên nghiên cứu để thống nhất việc có kháng nghị hay không nhằm hạn chế tình trạng VKS cấp dưới kháng nghị nhưng cấp trên thấy không có căn cứ nên rút kháng nghị.
Bốn là, Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành
Kháng nghị phúc thẩm là một công tác quan trọng được nêu trong Chỉ thị công tác hàng năm của ngành Kiểm sát. Tuy nhiên để thực hiện có hiệu quả công tác này mỗi đơn vị cần phải có chương trình cụ thể với những chỉ tiêu cụ thể, tránh hô hào chung chung. Tăng cường công tác kiểm tra cả nội dung lẫn tiến độ thực hiện các chỉ tiêu công tác đã đề ra, chú trọng việc kiểm tra thực hiện các công việc đã được nêu rõ trong Chỉ thị 03 của đồng chí Viện trưởng VKSNDTC như gửi bản án, mở sổ theo dõi vi phạm trong hoạt động tư pháp, kiểm sát bản án, lập phiếu kiểm sát bản án… Việc thỉnh thị và trả lời thỉnh thị phải được thực hiện một cách nghiêm túc theo đúng quy chế của Ngành. VKS cấp phúc thẩm phải thường xuyên thông báo về những ưu điểm và những thiếu sót hạn chế trong công tác kháng nghị, những bản kháng nghị có chất lượng cần được thông báo rộng rãi để rút kinh nghiệm trong toàn Ngành. Cần thực hiện nghiêm túc quy định của ngành về Hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá công tác nghiệp vụ liên quan đến công tác kháng nghị phúc thẩm, những đơn vị làm tốt cần được kịp thời động viên khuyến khích, những đơn vị thực hiện không đạt chỉ tiêu thì phải xem xét trong việc bình xét thi đua cuối năm, có như vậy mới tạo động lực cho toàn Ngành phấn đấu nâng cao số lượng, chất lượng kháng nghị phúc thẩm án hình sự.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG CÔNG TÁC
KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
 
VKSND tỉnh Đồng Nai
 
1. Thực trạng công tác kiểm sát giải quyết án hành chính.
Tranh chấp, khiếu kiện trong lĩnh vực hành chính trong năm 2014 tiếp tục diễn biến phức tạp và gia tăng so với năm 2013, nổi lên là các khiếu kiện về thu hồi đất, giải tỏa, bồi thường và chính sách tái định cư sau thu hồi đất. Nguyên nhân chính là do tác động của suy thoái kinh tế, lạm phát tuy đã được đẩy lùi nhưng vẫn có tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân; các chính sách pháp luật về đất đai, chính sách đền bù, giải tỏa tuy đã có sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhưng vẫn còn bất cập. Trong đó, có nguyên nhân từ việc xác định giá trị quyền sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích công cộng, quốc phòng - an ninh, thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội chưa sát với giá thị trường chuyển nhượng đất tại địa phương. Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đã gặp không ít khó khăn do người dân không đồng ý với giá bồi thường của nhà nước và việc bố trí tái định cư, từ đó dẫn đến người dân khởi kiện ra Tòa án hành chính đối với các cơ quan quản lý nhà nước ngày càng tăng. Cụ thể: Năm 2013 thụ lý kiểm sát 144 vụ sơ thẩm và 136 vụ phúc thẩm. Năm 2014 thụ lý kiểm sát 309 vụ sơ thẩm, tăng 164 vụ =114,59% so với năm 2013 và 125 vụ phúc thẩm.
2. Khó khăn, vướng mắc
Qua hơn 3 năm thực hiện Luật TTHC và các quy định pháp luật có liên quan đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, cụ thể là:
Để giải quyết những khiếu kiện loại việc này gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án. Thực tiễn đã có nhiều vụ án bị kéo dài không giải quyết được vì những vướng mắc liên quan đến giá đất bồi thường cho người dân khi bị thu hồi đất.
- Đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên được bố trí làm công tác kiểm sát giải quyết án hành chính của Viện kiểm sát chưa hợp lý (Viện kiểm sát cấp huyện tuy đã hình thành 03 bộ phận nhưng chỉ bố trí 01 hoặc 02 người) lại phải kiêm nhiệm công tác khác, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế.
- Các văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ nhất là văn bản liên ngành về thực hiện Luật Tố tụng hành chính chậm được ban hành.
- Đối tượng khởi kiện chưa cụ thể (Khoản 2 Điều 3) có quy định về hành vi hành chính nhưng chưa có hướng dẫn giải thích thế nào là “công vụ, nhiệm vụ” của cán bộ, công chức, dẫn đến việc khó xác định hành vi lạm quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình công tác...
- Quyền của người bị kiệnchưa phù hợp (Khoản 3 Điều 51, khoản 1 Điều 120):có quyền “sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính..”, nhưng luật và các văn bản hướng dẫn không có quy định cụ thể về thời hạn là không hợp lý, dẫn đến việc “tùy tiện” của các cơ quan quản lý Nhà nước tham gia với tư cách là người bị kiện trong việc sửa đổi, hủy bỏ để né tránh trách nhiệm. Thực tiễn có nhiều quyết định hành chính được sửa đổi, điều chỉnh nhưng chỉ làm thay đổi về mặt thời gian, hình thức còn nội dung, bản chất của sự việc không thay đổi; có trường hợp việc sửa đổi chỉ thực hiện khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử dẫn đến thời hạn giải quyết vụ án phải kéo dài vì lý do đối tượng khởi kiện đã thay đổi, người khởi kiện buộc phải thay đổi yêu cầu khởi kiện, trình tự tố tụng gần như phải thực hiện lại từ đầu.
- Quyền, nghĩa vụ giao nộp chứng cứ chưa khả thi (Khoản 1 Điều 77): Trên thực tế, trường hợp nghĩa vụ giao nộp chứng cứ là người bị kiện (UBND, các cơ quan nhà nước) khi không thực hiện giao nộp chứng cứ thì hậu quả như thế nào? giao nộp chậm thì dẫn đến vi phạm thời hạn giải quyết vụ án? Hậu quả của việc không giao nộp hoặc giao nộp chậm chứng cứ?
- Quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện khó thực hiện (Khoản 2 Điều 105):Ngoài đơn khởi kiện, người khởi kiện còn phải nộp kèm tài liệu chứng minh cho yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể là tài liệu này bao gồm những gì. Điều này gây khó khăn cho người khởi kiện vì trình độ hiểu biết của họ còn hạn chế, khó đánh giá cái nào là chứng cứ cần có và họ cũng không dễ dàng tìm kiếm, thu thập được.
- Quy định về việc tham gia tố tụng của người bị kiện thiếu chặt chẽ: Chậm cử người đại diện tham gia tố tụng nhất là người bị kiện là UBND, làm chậm quá trình giải quyết án. Có trường hợp UBND làm văn bản ủy quyền cho nhiều người cùng tham gia tố tụng nhưng lại không xác định rõ phạm vi ủy quyền của từng người. Việc tham gia tố tụng bắt buộc phải có mặt của tất cả người được ủy quyền, phải tổ chức nhiều buổi đối thoại và nhiều phiên xử phải hoãn vì vắng mặt một trong những người được ủy quyền. Mặt khác, có nhiều trường hợp người đại diện UBND thường xuyên vắng mặt, không đến làm việc theo giấy triệu tập hoặc không nắm rõ nội dung vụ việc nên không trả lời được. Ngoài ra, trong một số án cần xác định nguồn gốc nhà đất, thời điểm xây nhà..., khi có công văn yêu cầu UBND làm rõ thì thường được trả lời rất chậm, có khi không trả lời...
- Thẩm quyền của Hội đồng xét xử không cụ thể (Khoản 1 Điều 163): Quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan thuộc thẩm quyền xem xét của Hội đồng xét xử là những quyết định giải quyết khiếu nại gồm những nội dung nào? HĐXX có quyền: “Chấp nhận ... yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy ... quyết định hành chính trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước ... thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”, quy định như trên còn mang tính chung chung, khó thực hiện trên thực tế nhất là trong lĩnh vực thu hồi, đền bù, giải tỏa về đất đai gây khó khăn cho người dân và việc thi hành bản án không khả thi.
- Về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính “Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc vụ việc khác có liên quan”(Khoản 1 Điều 118), dẫn đến việc tùy tiện của Tòa án để ra quyết định tạm đình chỉ, nhất là khi cơ quan giải quyết có trách nhiệm giải quyết các vụ việc có liên quan đồng thời là người bị kiện (như chậm cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan vụ án, chậm hoặc không có văn bản trả lời theo yêu cầu của Tòa án....).
3. Những giải pháp, biện pháp khắc phục
3.1. Quán triệt các quan điểm của Đảng, quy định của pháp luật và sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Ngành
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong công tác kiểm sát giải quyết vụ án chính, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã bám sát Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các yêu cầu về nhiệm vụ phát triển KT- XH của địa phương để xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện trong toàn Ngành, trong đó nhấn mạnh: “Hai cấp kiểm sát phải đẩy mạnh công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ, việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động; đề ra các biện pháp, giải pháp nhằm kiểm sát chặt chẽ và nâng cao kỹ năng kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp phát hiện vi phạm phải kháng nghị, kiến nghị kịp thời. Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa chất lượng kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, nhất là kháng nghị phúc thẩm ngang cấp; phối hợp với Toà án giải quyết các vụ án phức tạp, có nhiều vướng mắc, nhất là các vụ, việc do Viện kiểm sát kháng nghị. Bên cạnh đó, phải chú trọng tổng hợp vi phạm và phát hiện những tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền khắc phục vi phạm”.
Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Viện kiểm sát tỉnh đã đề ra Nghị quyết lãnh đạo và tổ chức thực hiện một cách đồng bộ, sâu rộng, toàn diện. Đã chú trọng quan tâm, củng cố kiện toàn phòng nghiệp vụ và bộ phận nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; sắp xếp, bố trí lại Kiểm sát viên, cán bộ theo hướng tăng cường cho khâu công tác này; tiến hành đồng bộ các biện pháp để siết chặt kỷ luật nghiệp vụ, kỷ cương công tác. Đội ngũ cán bộ, công chức cơ bản đã được trang bị kiến thức pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ; nhiều đồng chí không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, có bản lĩnh nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao trong công tác, phấn đấu nỗ lực, học hỏi và thường xuyên nghiên cứu các văn bản pháp luật liên quan làm căn cứ cho công tác kiểm sát.
3.2 Những biện pháp đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính. 
Xác định đây là lĩnh vực công tác phức tạp, kinh nghiệm chưa nhiều, nhất là đối với các Viện kiểm sát cấp huyện; Để nâng cao được chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát thì trước hết phải đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và hướng dẫn cấp huyện. Trước hết là vai trò trách nhiệm của người đứng đầu, phải chịu khó nghiên cứu văn bản, tích lũy kinh nghiệm, nắm chắc công việc để tìm ra những giải pháp, những cách làm hay; thông qua kiểm sát bản án, quyết định của Toà án kịp thời trao đổi thông tin, nắm bắt tình hình các tranh chấp, vi phạm, hướng dẫn cấp huyện kháng nghị, kiến nghị theo quy định của pháp luật.
Lãnh đạo Viện kiểm sát tỉnh đã thường xuyên tiến hành kiểm tra công tác nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát cấp huyện và phòng nghiệp vụ, trong đó có công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính...; tăng cường đi cơ sở để kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc. Thông qua công tác kiểm tra đã chỉ ra những vi phạm, thiếu sót cần khắc phục trong công tác này, đồng thời rút ra được những kinh nghiệm trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp.
Tăng cường thông báo rút kinh nghiệm cho Viện kiểm sát cấp huyện. Hàng quý, phải thông báo tình hình thụ lý, kiểm sát giải quyết của Toà án; phải nêu rõ lý do số án bị cấp phúc thẩm sửa án, hủy án và tổng hợp các dạng vi phạm để cấp huyện biết làm cơ sở cho việc phát hiện vi phạm để kiến nghị. Ban hành quy định, quy trình giải quyết nhằm nâng cao chất lượng, khối lượng công việc và là tiêu chí xét thi đua cho cá nhân và tập thể về các chỉ tiêu như: Chỉ tiêu về kháng nghị, kiến nghị; thông báo rút kinh nghiệm; tỷ lệ về số án bị huỷ, cải sửa có trách nhiệm của Viện kiểm sát; chỉ tiêu về tỷ lệ số kháng nghị được Toà cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát vv…
Để kháng nghị, kiến nghị đạt chất lượng cả về hình thức và nội dung, có tính thuyết phục cao, được Tòa án chấp nhận, ngoài kinh nghiệm, kỹ năng phát hiện và tổng hợp vi phạm thì phải nêu được quan điểm của Viện kiểm sát kháng nghị theo hướng nào? (sửa án hay hủy án). Chỉ tập trung kháng nghị những bản án, quyết định có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nội dung ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Những bản án, quyết định có vi phạm thủ tục tố tụng, nhưng không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đương sự, nếu có kháng nghị cũng không làm thay đổi nội dung vụ án thì không cần thiết phải kháng nghị, mà chỉ cần tổng hợp vi phạm để kiến nghị với Tòa án.
Thường xuyên tranh thủ ý kiến chỉ đạo của Vụ nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân Tối cao nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật và hỗ trợ về mặt nghiệp vụ, nhất là đối với Viện kiểm sát cấp huyện và trong việc thực hiện những quy định mới của pháp luật.
Chủ động và tăng cường phối hợp giữa Viện kiểm sát với Toà án trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi ngành trong hoạt động tố tụng. Khi phát hiện vi phạm kịp thời trao đổi để Toà án tự khắc phục, trong trường hợp Toà án vẫn giữ nguyên quan điểm thì mới ban hành văn bản kháng nghị, kiến nghị. Đối với những vụ, việc phức tạp, khó khăn về đường lối giải quyết Kiểm sát viên và Thẩm phán phải báo cáo lãnh đạo ngành xin ý kiến giải quyết, khi cần thiết thì báo cáo thỉnh thị xin ý kiến của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp tăng cường nghe báo cáo án, nhất là những vụ án phức tạp về hành chính nhằm giải quyết kịp thời các vướng mắc.
Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính VKSND tỉnh Đồng Nai kiến nghị và đề xuất một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới như sau:
Một là, Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 37 của Quốc hội, Chỉ thị của Viện trưởng VKSNDTC về công tác của ngành KSND để cán bộ, Kiểm sát viên trong toàn ngành nhận thức đúng đắn, đầy đủ; nắm vững các quy định của Luật TTHC, Bộ luật TTDS và những văn bản hướng dẫn thi hành. Đổi mới phương thức, biện pháp thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC, TTDS đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật, trọng tâm là nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát của Kiểm sát viên tại phiên tòa; kiểm sát chặt chẽ các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật.
Hai là, Thực hiện tốt quyền kháng nghị, kiến nghị; nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, kiểm sát chặt chẽ và tổng hợp các vi phạm của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính để kiến nghị có hiệu quả. Phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát 02 cấp trong công tác kháng nghị; sao gửi bản án, quyết định của Tòa án kịp thời, chủ động nắm bắt thông tin, phát hiện vi phạm kháng nghị kịp thời theo luật định.
Ba là, Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn và thường xuyên thông báo, rút kinh nghiệm trong quá trình kiểm sát của VKS cấp trên đối với VKS cấp dưới để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát.
Quan tâm bố trí cán bộ một cách hợp lý cho khâu công tác này, mỗi Viện kiểm sát huyện phải có ít nhất 02 kiểm sát viên chuyên trách, Phòng nghiệp vụ Viện tỉnh có ít nhất 06 Kiểm sát viên, tránh tình trạng vụ án phải hoãn xét xử do thiếu Kiểm sát viên tham gia. Khi phân công phải tính đến yếu tố ổn định, đảm bảo về chất lượng của cán bộ. Cán bộ, Kiểm sát viên phải tự giác học tập, nâng cao trình độ về mọi lĩnh vực, nắm vững các quy định của pháp luật về hình thức lẫn nội dung, các văn bản hướng dẫn có liên quan để thực hiện tốt chức năng của ngành trong thời gian tới.
Bốn là, Luật TTHC quy định ở cấp sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của  người tiến hành tố tụng và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, để đảm bảo giải quyết vụ án có căn cứ, đúng pháp luật trước khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên phải đề cao trách nhiệm nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, nắm chắc các tình tiết, chứng cứ có tại hồ sơ, nhất là về thủ tục tố tụng, phải có bản báo cáo đề xuất rõ quan điểm giải quyết vụ án, trình lãnh đạo viện xem xét, chỉ đạo để làm cơ sở cho việc kháng nghị khi quan điểm của hai ngành không thống nhất, tránh để xảy ra trường hợp vụ án có Kiểm sát viên tham gia bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án do vi phạm thủ tục tố tụng hoặc thụ động chờ có bản án, quyết định mới khởi động hoạt động kiểm sát dẫn đến quá thời hạn thực hiện quyền kháng nghị.
Năm là,Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Tố tụng hành chính một cách toàn diện, nhất là các quy định về vị trí, vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền của Viện kiểm sát, của Kiểm sát viên trong hoạt động Tố tụng hành chính theo tinh thần nội dung của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÁC KHÁNG NGHỊ,
KIẾN NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHẰM HẠN CHẾ VI PHẠM TRONG VIỆC TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
 
Vụ kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, VKSNDTC
 
Công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sựcó vị trí quan trọnglà một trong các hoạt động của VKSND để kiểm sát hoạt động tư pháp. Kháng nghị, kiến nghị là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKSND và là biện pháp trọng yếu theo quy định của pháp luật nhằm hạn chế, khắc phục các vi phạm, tồn tại trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát trước yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
 Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chỉ thị số 01 ngày 02/01/2014 của Viện trưởng VKSND tối cao về công tác của Ngành năm 2014, công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự đã có chuyển biến tiến bộ đáng kể và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, góp phần quan trọng trong việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành. VKSND các cấp đã quản lý chặt chẽ tình hình chấp hành pháp luật, trực tiếp kiểm sát 2.898cuộc tại nhà tạm giữ, 269 cuộc tại trại tạm giam, 111 cuộc tại trại giam, 827 cuộc tại cơ quan thi hành án hình sự Công an 2 cấp, 3.188cuộc tại Ủy ban nhân cấp xã có kết luận bằng văn bản; Kiểm sát 100% các quyết định về thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân các cấp.
Thông qua công tác kiểm sát đã ban hành ban hành 656 kháng nghị, 4.251 kiến nghị trong kết luận và 116 kháng nghị, 716 kiến nghị bằng văn bản riêng yêu cầu cơ quan quản lý giam giữ, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự chấm dứt, khắc phục và có biện pháp phòng ngừa vi phạm. Kiểm sát các quyết định về thi hành án hình sự của Tòa án phát hiện 1.076 quyết định thi hành án hình sự của Tòa án nhân dân các cấp vi phạm về thời hạn, nội dung có sai sót; 90 quyết định hoãn Thi hành án phạt tù không đúng quy định của pháp luật, ban hành 278 kiến nghị, 93 kháng nghị đối với Tòa án nhân dân các cấp.
Các dạng vi phạm, tồn tại VKSND các cấp đã kháng nghị, kiến nghị như: Hồ sơ quản lý người bị tạm giữ, tạm giam chưa đảm bảo theo quy định như thiếu biên bản bắt giữ, thiếu lệnh truy nã, phiếu khám sức khỏe; không có danh chỉ bản, biên bản bàn giao hồ sơ; lệnh tạm giữ không số, không có chữ ký, không đóng dấu chức danh của người ra lệnh, không tống đạt lệnh tạm giữ cho người bị bắt giữ; Việc thông báo sắp quá hạn theo quy định hoặc phối hợp, kiến nghị yêu cầu xử lý quá hạn chưa kịp thời nên để quá hạn giam, giữ.
Trong công tác quản lý giam giữ: Việc phân loại giam giữ không đúng quy định; Việc kiểm tra thân thể và đồ vật của người bị giam, giữ khi nhận trại, vào buồng giam thiếu chặt chẽ; Việc tuần tra, canh gác, nắm tình hình, diễn biến tư tưởng của người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân chưa được quan tâm đúng mức, nhiều nơi còn sơ hở; đưa người bị tạm giam ra ngoài để phục vụ công tác giam giữ hoặc lao động dọn dẹp, vệ sinh trái quy định... dẫn đến việc người bị giam, giữ vi phạm kỷ luật, phạm tội mới hoặc tự sát chếtở nơi giam, giữ (năm 2014, có 57 lượt quá hạn tạm giữ và 1.324 lượt quá hạn tạm giam; có 75 người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân chết do tự sát; có 2 người bị tạm giam và 3 phạm nhân bị người cùng buồng giam đánh chết; Phạm tội mới: 142 vụ/220 người, trong đó 96 vụ/114 người trốn khỏi nơi giam, giữ và phạm các tội khác như: Giết người, cố ý gây thương tích, mua bán trái phép chất ma túy... Vi phạm kỷ luật trong tạm giữ, tạm giam là: 1.787 lượt và 10.578 lượt phạm nhân vi phạm kỷ luật, trong đó có 800 lượt phạm nhân cất giấu, sử dụng trái phép chất ma túy; 1.339 lượt phạm nhân cất giấu sử dụng điện thoại, uống rượu bia: 128; cờ bạc: 683, đánh nhau: 3.158 lượt phạm nhân).
Chưa thực hiện đúng, đầy đủ chế độ, chính sách cho người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân như chế độ ăn, ở, mặc, khám chữa bệnh (chưa cấp khăn mặt, xà phòng, khám sức khỏe, cho thăm gặp, nhận quà vượt quá quy định, chỗ ở chưa bảo đảm đủ 2m2/người); chưa trang bị hệ thống truyền thanh, cấp báo nhân dân hoặc báo địa phương;chưa cấp phát hoặc cho mượn quần, áo, màn, chiếu theo quy định; giam, giữ không đảm bảo về vệ sinh môi trường, không có cán bộ y tế để theo dõi, khám và chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam. Xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù không đúng quy định; Một số trại giam chưa tổ chức dạy văn hóa cho phạm nhân…
Vi phạm của TAND các cấp như chậm ra quyết định THA, chậm chuyển giao bản án và chậm gửi quyết định THA; quyết định THA ghi sai tội danh, nội dung bản án chưa chính xác; chưa tổng hợp hình phạt; không ấn định thời gian thử thách của án treo, quyết định thi hành án không ghi hình phạt bổ sung; quyết định hoãn thi hành án phạt tù trái quy định…
Vi phạm của cơ quan thi hành hình sự Công an 2 cấp: Chậm ra quyết định và áp giải thi hành án, chưa thực hiện việc xét giảm hình phạt, rút ngắn thời gian thử thách của án treo; chưa cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt theo quy định của Luật THAHS, thiếu đôn đốc, kiểm tra trong việc lập hồ sơ đối với người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ...
Vi phạm của UBND cấp xã:Chưa phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ; hồ sơ thiếu bản nhận xét về việc chấp hành pháp luật, thiếu bản cam kết và bản kiểm điểm của người bị kết án; Không rà soát, đề nghị cấp giấy chứng nhận hoặc rút ngắn thời gian thử thách của án treo, cải tạo không giam giữ; không chuyển hồ sơ người chấp hành xong hình phạt đến cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để xem xét việc cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt.
 
Vi phạm của cơ quan tố tụng: Hồ sơ thiếu biên bản bắt; Tính thời hạn tạm giữ, tạm giam không đúng với quy định; Ghi căn cứ bắt không ghi rõ hành vi vi phạm mà ghi theo tội danh; Tính thời hạn tạm giam không liên tục hoặc thời hạn tạm giam trùm lên thời hạn tạm giữ; Chưa kịp thời gửi quyết định tạm giữ hoặc lệnh tạm giam, phê chuẩn lệnh tạm giam đến cơ quan quản lý giam giữ; Để quá hạn tạm giữ, tạm giam; Chậm gửi bản án, quyết định thi hành án đối với người bị tạm giam đã xét xử và bị kết án phạt tù giam…
Nhiều đơn vị đã thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý tình hình, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát nhằm phát hiện và tổng hợp các vi phạm, tồn tại, ban hành kháng nghị, kiến nghị như: Vụ 4, Hà Nam, TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Đắk Lắk, Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang, Nghệ An, Tây Ninh, CÇn Th¬, Lµo Cai, Thõa Thiªn HuÕ, B×nh §Þnh, B¹c Liªu... Các nội dung kháng nghị, kiến nghị được cơ quan hữu quan có văn bản phúc đáp tiếp thu, sửa chữa và khắc phục. Thông qua việc ban hành các kháng nghị, kiến nghị đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. Đặc biệt, nhiều kháng nghị, kiến nghị có chất lượng và được cấp ủy địa phương đánh giá cao. Điển hình như Vụ 4 đã kiểm tra, phúc tra việc quá hạn tạm giữ, tạm giam tại 02 địa phương: TP Hồ Chí Minh, Thái Nguyên. Kết quả phúc tra cho thấy đã có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt là các biện pháp phối hợp, phòng ngừa, hạn chế tình trạng quá hạn trong tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, nhiều vi phạm, tồn tại chưa được VKS phát hiện kịp thời, tình trạng quá hạn tạm giữ, tạm giam vẫn tiếp tục tiếp diễn. Việc ra các quyết định của Tòa án, gửi quyết định thi hành án, bản án còn chưa đúng quy định... Vụ đã ban hành kết luận kiến nghị yêu cầu khắc phục và ban hành 02 kiến nghị riêng đối với Giám đốc Công an TP và Chánh án TAND TP Hồ Chí Minh tiếp tục có biện pháp phòng ngừa, chấn chỉnh, khắc phục vi phạm. Tại Hà Nam, thông qua kiểm sát việc hoãn chấp hành án phạt tù, VKSND tỉnh đã phát hiện 02 quyết định hoãn thi hành án của TAND huyện Thanh Liêm trái với quy định và ban hành 02 kháng nghị yêu cầu TAND tỉnh Hà Nam hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù trái pháp luật. Sau khi nhận được kháng nghị, TAND tỉnh đã có văn bản nhất trí với kháng nghị của VKS và đặc biệt Ban Nội chính Tỉnh ủy đã có văn bản chỉ đạo Ban cán sự đảng TAND tỉnh xem xét, chỉ đạo thực hiện đúng quy định của pháp luật trong việc hoãn chấp hành án tại TAND huyện Thanh Liêm theo kháng nghị của VKSND tỉnh...
Bên cạnh những nổ lực phấn đấu đạt kết quả như đã nêu trên, việc phát hiện, tổng hợp các vi phạm, tồn tại và ban hành kháng nghị, kiến nghị của VKSND các cấp cũng còn tồn tại như: Việc theo dõi, quản lý tình hình chấp hành pháp luật chưa kịp thời, đầy đủ; Chất lượng kiểm sát còn hạn chế, nhiều vi phạm chưa được phát hiện kịp thời để kháng nghị, kiến nghị; Một số Kết luận kiểm sát chưa đúng về thể thức và nội dung, chưa viện dẫn đúng căn cứ pháp luật để xác định vi phạm, còn chưa phân biệt rõ nội dung kháng nghị, nội dung kiến nghị... Việc sử dụng biện pháp kháng nghị yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm thiếu kiên quyết, còn biểu hiện khuynh hướng nể nang, né tránh; Một số kháng nghị, kiến nghị chỉ dừng lại ở đề nghị phòng ngừa, chưa đi sâu làm rõ nguyên nhân, điều kiện xảy ra vi phạm và trách nhiệm của cán bộ quản lý giam giữ nên chưa có tác dụng mạnh trong ngăn chặn, hạn chế vi phạm.
Những hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản là năng lực trình độ, trách nhiệm công vụ của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; công tác quản lý, chỉ đạo điều hành một số địa phương chậm đổi mới, chưa sâu sát, thiếu kịp thời.
Để thực hiện tốt phương châm “Đổi mới, chất lượng, kỷ cương, hướng về cơ sở”, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cần thiết phải nâng cao chất lượng, hiệu quả các kháng nghị, kiến nghị nhằm hạn chế các vi phạm, tồn tại trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, nhận thức chính xác và xác định kháng nghị, kiến nghị là một quyền năng pháp lý đặc biệt, một nhiệm vụ và biện pháp quan trọng nhất của Viện kiểm sát nhằm loại trừ, hạn chế vi phạm, bảo đảm cho việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh. 
VKSND kháng nghị các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng hoặc phát hiện sơ hở, thiếu sót trong quản lý là nguyên nhân, điều kiện dễ dẫn đến vi phạm pháp luật thì VKSND kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật hoặc áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm.
Thứ hai,xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ tiêu trong các Nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về công tác phòng, chống vi phạm thuộc lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự và nội dung Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao về công tác của Ngành năm 2015.
Thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trong công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự năm 2015 của VKSND các cấp: “Tăng cường quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn công tác kiểm sát thi hành án hình sự nhằm phát hiện kịp thời những vi phạm trong việc xét miễn, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù”. Theo dõi, quản lý chặt chẽ tình hình chấp hành pháp luật, kết quả công tác kiểm sát. Tổng hợp, báo cáo những vi phạm phổ biến, kéo dài trong tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự để tham mưu cho Viện trưởng VKSND các cấp ban hành kháng nghị, kiến nghị cơ quan hữu quan khắc phục vi phạm. 
Thứ ba, quản lý chặt chẽ tình hình chấp hành pháp luật, nghiên cứu và nắm vững các quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự;công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự.Vận dụng linh hoạt các phương thức kiểm sát như: Hàng ngày kiểm sát, kiểm sát định kỳ, đột xuất; yêu cầu kiểm tra và thông báo kết quả cho VKS; yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan để kịp thời phát hiện các vi phạm, tồn tại và vận dụng chính xác các biện pháp pháp luật để loại trừ những vi phạm, tồn tại trong tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự như: Kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu, quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân không có căn cứ và trái pháp luật, khởi tố hoặc yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Duy trì kiểm sát định kỳ, tăng cường kiểm sát đột xuất những nơi giam giữ để xảy ra gây rối, bạo loạn hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng; thực hiện nghiêm quy định của Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự về trực tiếp kiểm sát định kỳ tại nhà tạm giữ, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Sau khi kiểm sát phải có kết luận bằng văn bản xác định rõ các vi phạm và căn cứ vi phạm, nguyên nhân và hậu quả (nếu có) do hành vi vi phạm pháp luật gây ra. Kháng nghị hoặc kiến nghị yêu cầu Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam, nơi đã kiểm sát có biện pháp chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và xử lý ng­ười vi phạm.
Kiên quyết kháng nghị, yêu cầu đình chỉ việc thi hành quyết định hoặc hành vi vi phạm, xử lý người có hành vi vi phạm đối với những vi phạm pháp luật về thủ tục pháp luật, về chế độ quản lý, phân loại giam giữ; vi phạm trong thực hiện chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân; những vi phạm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và các quyền khác không bị pháp luật tước bỏ của chủ thể bị giam giữ; thiếu trách nhiệm của chủ thể quản lý giam giữ để xảy ra hậu quả nghiêm trọng… Đối với những vi phạm nhỏ, những nguyên nhân, điều kiện sẽ dẫn đến vi phạm thì ban hành kiến nghị. Khắc phục việc nể nang, né tránh đối với các chủ thể vi phạm nên thay thế biện pháp kháng nghị bằng biện pháp kiến nghị.
Chú trọng và tăng cường công tác phúc tra việc thực hiện kháng nghị, kiến nghị của VKSND nhằm bảo đảm hiệu lực của các kháng nghị, kiến nghị đã ban hành, góp phần khắc phục, hạn chế những vi phạm, tồn tại phổ biến, kéo dài trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự.
Bốn là,tăng cường và đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định đến việc hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của Ngành. Tăng cường vai trò chủ động, trách nhiệm của Viện trưởng VKSND các cấp; Ở từng cấp kiểm sát, Viện trưởng phải có sự phân công, phân nhiệm một cách hợp lý, khoa học; đồng thời, phải nắm được đầy đủ, sâu sát và toàn diện từng vấn đề, từng nội dung công việc, nhất là những vấn đề quan trọng, phức tạp để chỉ đạo kịp thời. Tăng cường vai trò của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng trong việc chỉ đạo nghiệp vụ, đôn đốc và trực tiếp kiểm tra hồ sơ, hoạt động nghiệp vụ của Kiểm sát viên, làm tốt công tác rút kinh nghiệm về nghiệp vụ và phổ biến các văn bản pháp luật, kinh nghiệm công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự./.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM CÔNG TỐ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA, GẮN CÔNG TỐ VỚI HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM
 
 
Viện Kiểm sát quân sự Thủ đô Hà Nội
 
 
Đặc điểm nhiệm vụ: Viện kiểm sát quân sự Thủ đô Hà Nội được thành lập trên cơ sở hợp nhất Viện kiểm sát quân sự Cơ quan Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát quân sự Thủ đô Hà Nội, đi vào hoạt động từ 01/01/2012. Kiểm sát hoạt động của 15 Cơ quan điều tra (6 Binh chủng, 5 Tổng cục, Bộ Tổng Tham m­u, Tổ chức sự nghiệp Bộ Quốc phòng, Binh đoàn 11, Binh đoàn 12); Kiểm sát tin báo tố giác tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Thủ đô Hà Nội trên địa bàn Hà Nội (trừ một số vụ việc thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát quân sự khác).
Ngay từ khi đi vào hoạt động Viện kiểm sát quân sự Thủ đô Hà Nội đã quán triệt và thực hiện tốt các quy định của pháp luật trong thực hiện chức năng nhiệm vụ, nhất là các quy định liên quan đến xử lý tin báo tố giác tội phạm như­ Ch­ương VIII, Ch­ương IX Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự và những quy định chung về điều tra và quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự quy định tại các Điều 103, Điều 109, Điều 112, Điều 113, Điều 114… Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thông tư­ liên tịch số 06/2013/TTLT- BCA- BQP- BTC- BNN&PTNT- VKSNDTC ngày 02/8/2013 h­ướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự  về “Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố”; Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 và Nghị quyết 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc Hội về “Tăng c­ường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm”.
Đặc biệt, Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện tr­ưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về “Tăng c­ường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm”.
Ngay từ khi nhận đ­ược Chỉ thị 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về“Tăng c­ường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm”. Viện Kiểm sát quân sự Thủ đô Hà Nội đã quán triệt và sao gửi chỉ thị đến từng Kiểm sát viên để thực hiện và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá của năm 2014 và những năm tiếp theo. Hàng tuần, hàng tháng qua giao ban đều yêu cầu Kiểm sát viên báo cáo các biện pháp cụ thể việc thực hiện các nội dung của chỉ thị. Và hiệu quả của việc tăng c­ường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra của Kiểm sát viên với từng vụ án. Coi đây là nội dung cơ bản trong đánh giá cán bộ, nhận xét đảng viên, các Kiểm sát viên không có giải pháp cụ thể, không có hiệu quả trong thực hiện chỉ thị thì không được biểu dương, khen th­ưởng trong quí và tổng kết năm.
Hai cấp Viện Kiểm sát quân sự Thủ đô Hà Nội đã quán triệt và thực hiện tốt tinh thần chỉ đạo của đồng chí Viện tr­ởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kết luận tại Hội nghị triển khai công tác năm 2011 về tăng c­ường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra. Cụ thể như­ sau: Cần có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về quan hệ giữa thực hành quyền công tố với kiểm sát điều tra, tăng c­ường hơn nữa vai trò chủ động của Viện kiểm sát trong quá trình điều tra…; Tăng c­ường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra nghĩa là Viện kiểm sát phải “song hành” cùng với Cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra làm rõ tội phạm và ng­ời phạm tội; phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra để tìm giải pháp phát hiện xử lý tội phạm khẩn tr­ương nhất, đầy đủ nhất, khi phát hiện thấy hạn chế, thiếu sót trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát phải coi đó cũng chính là hạn chế thiếu sót của mình để cùng Cơ quan điều tra tìm biện pháp khắc phục… Viện kiểm sát kiên quyết không phê chuẩn đối với những quyết định tố tụng vi phạm pháp luật hoặc không có căn cứ. Mục tiêu của hoạt động kiểm sát điều tra là nhằm hỗ trợ việc thực hành quyền công tố đ­ược tốt, đảm bảo việc truy tố có căn cứ, đúng pháp luật. Do vậy, yêu cầu của việc tăng c­ường trách nhiệm công tố đòi hỏi Viện kiểm sát phải cùng với Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm tồn tại trong quá trình điều tra, đảm bảo không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Qua một năm thực hiện chỉ thị đã mang lại hiệu quả thiết thực đã tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động, đội ngũ kiểm sát viên đã nêu cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Trong hoạt động điều tra đã gắn công tố với hoạt động điều tra, Kiểm sát viên đã bám sát quá trình điều tra, nắm chắc tiến độ điều tra, trong quá trình điều tra Kiểm sát viên đã song hành cùng điều tra, chủ động tích cực tham gia sâu vào quá trình điều tra, cùng chịu trách nhiệm với cơ quan điều tra tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế, Kiểm sát viên luôn coi đó là khó khăn của mình để cùng với cơ quan điều tra tìm cách khắc phục, đ­ược các Cơ quan điều tra tin tưởng đánh giá cao, các vụ án đều đ­ược giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, không có án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, không có án phải đình chỉ do bị can không phạm tội hay Tòa tuyên không phạm tội, góp phần nâng cao chất l­ượng công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.
Qua một năm thực hiện Chỉ thị chúng tôi rút ra một số nội dung sau:
- Một là: Đây là một chủ tr­ương đúng, phát huy đ­ược trách nhiệm Kiểm sát viên, mang lại kết quả thiết thực trong giải quyết các vụ án góp phần nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nên từ nay cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm này.
- Hai là: Muốn thực hiện tốt chủ trương này, Kiểm sát viên phải nêu cao trách nhiệm, tâm huyết, tận tụy với công việc, thực hiện nghiêm túc quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải tăng c­ường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra gắn công tố với hoạt động điều tra phải đề ra đ­ược các nội dung yêu cầu mang tính đột phá giúp Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp tố tụng khám phá đ­ược vụ án (nhất là các vụ án truy xét) và giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật.
- Ba là: Phải làm cho Cơ quan điều tra thấy rõ vai trò, vị trí của Viện Kiểm sát trong điều tra các vụ án; Sự có mặt của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát không phải chỉ do Luật quy định mà quan trọng hơn giúp Cơ quan điều tra tháo gỡ vụ án đúng quy định của pháp luật, làm cho Cơ quan điều tra thực sự thấy cần thiết có mặt của Kiểm sát viên, không thể thiếu Kiểm sát viên trong điều tra, giải quyết vụ án, nếu Cơ quan điều tra mời Kiểm sát viên chỉ để đối phó theo quy định của pháp luật là Viện kiểm sát ở đó ch­ưa khẳng định đ­ược vị trí vai trò của mình; ch­ưa tăng c­ường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, ch­ưa gắn công tố với hoạt động điều tra.
- Bốn là: Muốn thực hiện tốt nội dung này thì Viện trưởng 2 cấp (cấp 2 và cấp 3) phải trực tiếp chỉ đạo vì đây là nhiệm vụ trọng tâm đột phá năm 2014 và các năm tiếp theo, không nên giao cho cấp phó./.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
TRỰC TIẾP KIỂM SÁT TẠI CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
                  
Vô kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù, VKSND tèi cao
           
          Trùc tiÕp kiÓm s¸t lµ mét trong c¸c phương thøc nh»m thùc hiÖn chøc n¨ng kiÓm s¸t viÖc tu©n theo ph¸p luËt cña VKSND, lµ ph­­¬ng thøc hiÖu qu¶, thiÕt thùc nhÊt gióp VKS lµm tèt chøc n¨ng cña m×nh nhÊt lµ chøc n¨ng kiÓm s¸t ho¹t ®éng t­­­ ph¸p, trong ®ã cã ho¹t ®éng kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù. Trùc tiÕp kiÓm s¸t võa lµ quyÒn võa lµ tr¸ch nhiÖm cña ViÖn kiÓm s¸t; ph­­¬ng thøc nµy ®­­îc ghi nhËn vµ lµ mét phÇn trong c¸c ®iÒu cña LuËt tæ chøc ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n (Kho¶n 2, §iÒu 16, LuËt Tæ chøc VKSND n¨m 1981; Kho¶n 2 §iÒu 20 LuËt Tæ chøc VKSND n¨m 1992; Kho¶n 2 §iÒu 24 LuËt Tæ chøc VKSND söa ®æi 2002 vµ kho¶n 2 §iÒu 28 LuËt tæ chøc VKSND 2004). Trong c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù, trùc tiÕp kiÓm s¸t lµ mét trong c¸c ph­ư¬ng thøc cã hiÖu qu¶, toµn diÖn nhÊt ®Ó ph¸t hiÖn vi ph¹m; ®Ó VKS lµm tèt chøc n¨ng kiÓm s¸t viÖc thi hµnh ¸n d©n sù cña m×nh, cho dï phư­­¬ng thøc nµy theo tõng thêi gian tªn gäi, c¸ch thøc tæ chøc thùc hiÖn cã nh÷ng nh÷ng thay ®æi, nÕu như­­ thêi ®iÓm n¨m 1981 víi quy ®Þnh t¹i kho¶n 2 §iÒu 16 LuËt tæ chøc VKSND quy ®Þnh “KiÓm s¸t t¹i chç viÖc tu©n theo ph¸p luËt cña c¸c c¬ quan, ®¬n vÞ vµ ng­­ưêi h÷u quan trong viÖc chÊp hµnh c¸c b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh cña Tßa ¸n  nh©n d©n”, n¨m 1992 ®ư­­îc ®æi lµ “Trùc tiÕp kiÓm s¸t viÖc tu©n theo ph¸p luËt t¹i C¬ quan thi hµnh ¸n.”; n¨m 2002 söa lµ “Trùc tiÕp kiÓm s¸t viÖc tu©n theo ph¸p luËt trong viÖc thi hµnh ¸n cña c¬ quan thi hµnh ¸n .” vµ kho¶n 2 §iÒu 28 LuËt TCVKSND 2004 quy ®Þnh “ Trùc tiÕp kiÓm s¸t viÖc thi hµnh ¸n cña c¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù cïng cÊp vµ cÊp d­­ưíi, ChÊp hµnh viªn, c¬ quan, tæ chøc vµ c¸ nh©n cã liªn quan”.
§Ó thùc hiÖn tèt phư­¬ng thøc trªn ViÖn trư­ëng VKSNDTC ®· cô thÓ hãa b»ng nh÷ng quy ®Þnh t¹i c¸c Quy chÕ vÒ c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n vµ sau nµy lµ c¸c quy chÕ vÒ kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù (§iÒu 39 Quy chÕ c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n sè 807/Q§/VKSTC ngµy 25/7/2007; §iÒu 42 Quy chÕ c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù sè 132/Q§/VKSTC ngµy 10/4/2012; §iÒu 41 Quy chÕ c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù sè 255/Q§/VKSTC ngµy 19/6/2013). §ång thêi phư­¬ng thøc nµy còng ®­­ưîc ghi nhËn vµ lµ mét trong c¸c tiªu chÝ ®Ó ®¸nh gi¸ nh÷ng chØ tiªu c¬ b¶n cña Ngµnh kiÓm s¸t nh©n d©n trong c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù theo QuyÕt ®Þnh 297/Q§/VKSTC cña ViÖn trư­­ëng VKSNDTC.
Do x¸c ®Þnh ®Þnh ý nghÜa vµ tÇm quan träng cña phư­­¬ng thøc nµy trong ho¹t ®éng kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù nªn cïng víi c¸c ph­­ư¬ng thøc kh¸c VKSND c¸c cÊp ®· chó träng, ®æi míi c«ng t¸c kiÓm s¸t trùc tiÕp t¹i c¸c c¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù; ®Æc biÖt lµ nh÷ng n¨m gÇn ®©y sau khi VKSND tèi cao ban hµnh hÖ thèng chØ tiªu c¬ b¶n trong ngµnh KiÓm s¸t nh©n d©n. ChÊt l­­îng c¸c cuéc kiÓm s¸t ®­­îc n©ng cao; c¶ ba cÊp kiÓm s¸t ®· cïng thùc hiÖn ph­­ư¬ng thøc nµy; ®· cã nh÷ng ®æi míi tÝch cùc trong viÖc ¸p dông ph­­ư¬ng thøc kiÓm s¸t trùc tiÕp. Cô thÓ:
Theo thèng kª trong ngµnh KiÓm s¸t, nh÷ng n¨m gÇn ®©y ®Ó ®¹t nh÷ng hiÖu qu¶ tÝch cùc trong c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù. Trong 3 n¨m (2012, 2013 vµ 2014) ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n c¸c cÊp ®· tiÕn hµnh 2.577 cuéc kiÓm s¸t trùc tiÕp t¹i c¸c c¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù vµ c¬ quan tæ chøc liªn quan:
- NÕu tÝnh theo n¨m, th× n¨m 2012: 816 cuéc, n¨m 2013: 853 cuéc vµ 908 cuéc kiÓm s¸t trong n¨m 2014;
- Ph©n theo ®èi t­­ưîng kiÓm s¸t th× cã 2.551/2.577 cuéc (b»ng 98,9% cuéc) kiÓm s¸t ®èi víi C¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù cïng cÊp vµ cÊp dư­­íi; trong ®ã n¨m 2012: 812 cuéc, n¨m 2013: 839 cuéc, n¨m 2014: 900 cuéc.
ChØ kiÓm s¸t 26 cuéc (h¬n 1% c¸c cuéc kiÓm s¸t) ®èi víi c¸c c¬ quan, tæ chøc liªn quan ®Õn viÖc thi hµnh ¸n d©n sù.
- Theo cÊp th× cã 2.370/2.577 cuéc kiÓm s¸t cïng cÊp (b»ng 92 %); 181 cuéc kiÓm s¸t ®¬n vÞ cÊp dư­­íi.  §Æc biÖt lµ sau nhiÒu n¨m ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tèi cao kh«ng më c¸c cuéc trùc tiÕp kiÓm s¸t t¹i c¸c c¬ quan thi hµnh ¸n, n¨m 2013 vµ 2014 VKSND tèi cao ®· trùc tiÕp kiÓm s¸t 4 C¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù cã sè l­îng viÖc thi hµnh ¸n nhiÒu, phøc t¹p nhÊt ®ã lµ thµnh phè Hå ChÝ Minh, §µ N½ng, Qu¶ng Ninh vµ Thõa Thiªn HuÕ; N¨m 2014 ®· phóc tra kÕt qu¶ kiÓm s¸t n¨m 2013 t¹i Côc Thi hµnh ¸n d©n sù thµnh phè Hå ChÝ Minh.
  Cïng víi viÖc thùc hiÖn ho¹t ®éng kiÓm s¸t th­­êng xuyªn, hµng ngµy cña KiÓm s¸t viªn vµ c¸n bé lµm c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù; cïng víi phư¬ng thøc yªu cÇu C¬ quan thi hµnh ¸n, ChÊp hµnh viªn thi hµnh ®óng c¸c b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh cña Tßa ¸n; tù kiÓm tra viÖc tæ chøc thi hµnh ¸n; ra quyÕt ®Þnh thi hµnh ®óng ph¸p luËt.... ho¹t ®éng trùc tiÕp kiÓm s¸t ®· t¹o nªn nh÷ng kÕt qu¶ tÝch cùc trong c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù nh÷ng n¨m gÇn ®©y lµ ®· ph¸t hiÖn nhiÒu d¹ng lo¹i vi ph¹m trong ho¹t ®éng thi hµnh ¸n d©n sù, Trong 3 n¨m ViÖn kiÓm s¸t c¸c cÊp ®· ban hµnh 3.281 b¶n kiÕn nghÞ, kh¸ng nghÞ ®Õn c¸c c¬ quan thi hµnh ¸n c¸c cÊp ®Ó yªu cÇu kh¾c phôc vi ph¹m(2.768 kiÕn nghÞ, 513 kh¸ng nghÞ) gãp phÇn vµo thµnh tÝch kiÓm s¸t ho¹t ®éng tư­­ ph¸p cña ngµnh KiÓm s¸t nh©n d©n.
Tuy nhiªn, bªn c¹nh nh÷ng kÕt qu¶ ®¹t ®­ưîc, kÕt qu¶ c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù cßn nh÷ng h¹n chÕ, ch­­a ®¹t như­­ mong muèn; nh÷ng h¹n chÕ ®ã do nhiÒu nguyªn nh©n, tuy nhiªn trong ph¹m vi tham luËn nµy t«i xin tr×nh bµy vÒ nh÷ng h¹n chÕ trong viÖc ¸p dông ph­ư¬ng thøc kiÓm s¸t trùc tiÕp t¹i C¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù:
- Trư­íc hÕt ®ã lµ thùc tr¹ng kh«ng Ýt c¸n bé, trong ®ã cã c¸n bé l·nh ®¹o VKS c¸c cÊp, kh«ng coi träng vµ quan t©m ®óng møc ®Õn c¸c ho¹t ®éng kiÓm s¸t t­­ư ph¸p nãi chung trong ®ã cã ho¹t ®éng kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù. Do vËy, kÕt qu¶ c«ng t¸c kiÓm s¸t ho¹t ®éng tư­­ ph¸p kh«ng râ nÐt; c¸c ho¹t ®éng t¸c nghiÖp ch­­ưa ®­­ưîc chó träng; §éi ngò c¸n bé, KiÓm s¸t viªn lµm c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù võa thiÕu, võa yÕu, l¹i ch­ưa ®­ưîc quan t©m mét c¸ch ®óng møc trong khi c«ng t¸c thi hµnh ¸n d©n sù phøc t¹p, kÐo dµi.
- C¨n cø ph¸p luËt, thÈm quyÒn, ph¹m vi, còng nh­­ tr×nh tù, thñ tôc ®Ó VKS thùc hiÖn chøc n¨ng ®èi víi ®èi t­­îng liªn quan ®Õn thi hµnh ¸n d©n sù chư­­a râ rµng, cßn nhiÒu bÊt cËp; Ph¸p luËt vÒ thi hµnh ¸n d©n sù l¹i lu«n thay ®æi;
- Cßn cã t­­ư tư­­ëng ch¹y theo chØ tiªu mµ ch­­ưa coi träng chÊt l­­ưîng c¸c cuéc kiÓm s¸t; còng nh­­ư do n¨ng lùc h¹n chÕ nªn chÊt l­­ưîng nhiÒu cuéc kiÓm s¸t chư­­a t­ư¬ng xøng kh«ng ph¸t hiÖn ®­ưîc nh÷ng vi ph¹m ®iÓn h×nh cña ChÊp hµnh viªn hoÆc C¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù;
- Cßn lóng tóng, kh«ng ®æi míi trong viÖc tæ chøc thùc hiÖn ph­­ư¬ng thøc kiÓm s¸t trùc tiÕp;
- Ch­ưa biÕt ph¸t huy kÕt qu¶ c¸c cuéc kiÓm s¸t....
§Ó n©ng cao hiÖu qu¶ c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù vµ c«ng t¸c kiÓm s¸t c¸c ho¹t ®éng tư­­ ph¸p nãi chung, cÇn sù ®æi míi ®Æt c¸c ho¹t ®éng kiÓm s¸t t­­ư ph¸p ngang b»ng ho¹t ®éng thùc hµnh quyÒn c«ng tè; bªn c¹nh ®ã, cÇn t¨ng c­­ưêng nghiªn cøu s¾p xÕp l¹i ®éi ngò c¸n bé; ®æi míi vÒ viÖc thùc hiÖn c¸c ph­­ư¬ng thøc trong mçi ho¹t ®éng nghiÖp vô cña ngµnh kiÓm s¸t, ®Æc biÖt lµ trong c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù; trong ®ã träng t©m lµ ®æi míi phư­­¬ng thøc (biÖn ph¸p) kiÓm s¸t trùc tiÕp C¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù.
          D­­ưíi ®©y lµ mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao nh»m n©ng cao chÊt l­ưîng hiÖu qu¶ c«ng t¸c trùc tiÕp kiÓm s¸t t¹i c¸c c¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù:
        - Trư­­íc hÕt cã nhËn thøc ®Çy ®ñ vµ coi ®©y lµ phư­­¬ng thøc chñ yÕu ®Ó kÞp thêi ph¸t hiÖn, xö lý vi ph¹m cña c¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù, ®Æc biÖt trong thêi ®iÓm hiÖn nay chuÈn bÞ cho viÖc thùc hiÖn theo LuËt tæ chøc VKSND n¨m 2014 vµ LuËt söa ®æi, bæ sung mét sè ®iÒu cña LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.
           X¸c ®Þnh ph­­ư¬ng thøc nµy kh«ng chØ lµ quyÒn n¨ng mµ cßn lµ tr¸ch nhiÖm cña VKS khi thùc hiÖn chøc n¨ng. Khi ¸p dông phư­¬ng thøc nµy cÇn thùc hiÖn ®Çy ®ñ c¸c quy ®Þnh vµ tr×nh tù ®· ®ư­­îc quy ®Þnh t¹i §iÒu 41 Quy chÕ c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù sè 255/Q§/VKSTC ngµy 19/6/2013 cña ViÖn trưëng ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tèi cao.
           §èi tư­­îng cña c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù lµ sù chÊp hµnh ph¸p luËt cña Tßa ¸n nh©n d©n, C¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù cïng cÊp vµ cÊp dư­íi, ChÊp hµnh viªn, c¬ quan, tæ chøc vµ c¸ nh©n cã liªn quan ®Õn viÖc thi hµnh b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh cña Tßa ¸n; Tuy nhiªn, tïy tõng ®èi tư­­îng mµ ¸p dông c¸c phư¬ng thøc kiÓm s¸t kh¸c nhau; Kh«ng ®­­ưîc ¸p dông phư­­¬ng thøc trùc tiÕp kiÓm s¸t ®èi víi c¬ quan Tßa ¸n mµ chØ yªu cÇu, kiÕn nghÞ hoÆc kh¸ng nghÞ khi thùc hiÖn nhiÖm vô quyÒn h¹n hoÆc khi ph¸t hiÖn vi pham; Trong ®iÒu kiÖn hiÖn t¹i (mét phÇn do n¨ng lùc c¸n bé; do biªn chÕ cßn Ýt, h¬n n÷a c¨n cø ph¸p luËt chư­­a râ rµng) chØ  ¸p dông phư­­¬ng thøc yªu cÇu, kiÕn nghÞ hoÆc kh¸ng nghÞ ®èi víi c¸c c¬ quan, tæ chøc, c¸ nh©n liªn quan ®Õn viÖc thi hµnh ¸n hoÆc chØ kiÓm s¸t trùc tiÕp khi ®­­ưîc sù ®ång thuËn cña ®èi tư­­îng kiÓm s¸t.
      - §æi míi trong thùc hiÖn phư­­¬ng thøc kiÓm s¸t trùc tiÕp: ViÖc trùc tiÕp kiÓm s¸t ®­­ưîc thùc hiÖn theo ChØ thÞ cña ViÖn tr­­ưëng ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tèi cao, kÕ ho¹ch cña ViÖn kiÓm s¸t cÊp trªn, cña cÊp uû, Héi ®ång nh©n d©n ®Þa phư­­¬ng nh»m phßng ngõa vi ph¹m; Khi tiÕn hµnh trùc tiÕp kiÓm s¸t viÖc tu©n theo ph¸p luËt t¹i C¬ quan thi hµnh ¸n d©n sù ViÖn kiÓm s¸t cã thÓ yªu cÇu tù kiÓm tra, b¸o c¸o, yªu cÇu xuÊt tr×nh tµi liÖu ®Ó kiÓm tra. Trư­­êng hîp cÇn thiÕt sÏ trùc tiÕp x¸c minh nh»m x¸c ®Þnh râ vi ph¹m trong viÖc thi hµnh ¸n, nhưng kh«ng lµm ¶nh h­ưëng ®Õn ho¹t ®éng b×nh th­­êng cña C¬ quan thi hµnh ¸n ®­­ưîc kiÓm s¸t.
 Tr­­ưíc khi tiÕn hµnh kiÓm s¸t trùc tiÕp, ViÖn kiÓm s¸t ph¶ichän viÖc ®Ó kiÓm s¸t, t×m c¨n cø ph¸p luËt vµ ra QuyÕt ®Þnh trùc tiÕp kiÓm s¸t; ®ång thêi lËp kÕ ho¹ch kiÓm s¸t trùc tiÕp. ViÖn kiÓm s¸t ph¶i thùc hiÖn ®óng tr×nh tù kiÓm s¸t. Tïy theo yªu cÇu mçi cuéc kiÓm s¸t mµ cã néi dung thÝch hîp  nh»m x¸c ®Þnh vµ xö lý ®­ưîc vi ph¹m hoÆc t×nh tr¹ng vi ph¹m cña C¬ quan  thi hµnh ¸n d©n sù hoÆc cña ChÊp hµnh viªn th«ng qua viÖc ban hµnh KÕt luËn hoÆc kiÕn nghÞ, kh¸ng nghÞ .
§æi míi viÖc thøc hiÖn phư­­¬ng thøc nµy tËp trung ®æi míi:
- VÒ viÖc x¸c ®Þnh néi dung cÇn kiÓm s¸t: tïy theo tõng ®Þa phư­¬ng, tõng thêi gian vµ t×nh h×nh vi ph¹m ®· tÝch lòy ®ư­­îc qua ho¹t ®éng kiÓm s¸t th­­ưêng xuyªn, hµng ngµy cña KiÓm s¸t viªn mµ x¸c ®Þnh c¸c néi dung cÇn tiÕn hµnh, träng t©m kiÓm s¸t hoÆc x¸c ®Þnh nh÷ng vi ph¹m lÆp l¹i, vi ph¹m kÐo dµi hoÆc t×nh tr¹ng vi ph¹m;
- §æi míi trong viÖc n¾m b¾t, tÝch lòy t×nh h×nh vi ph¹m th«ng qua c¸c b¸o c¸o, thèng kª cña C¬ quan thi hµnh ¸n (kÓ c¶ b¸o c¸o cña c¬ quan thi hµnh ¸n cÊp trªn; b¸o c¸o tõng kú cña ChÊp hµnh viªn); qua phư­­¬ng tiÖn th«ng tin ®¹i chóng ®Ó x¸c ®Þnh träng t©m trư­­íc khi quyÕt ®Þnh kiÓm s¸t;
- Coi träng viÖc x¸c minh vµ kh¸ch quan trong viÖc l¾ng nghe gi¶i tr×nh cña ChÊp hµnh viªn thô lý khi nghiªn cøu, kiÓm s¸t hå s¬;
- §æi míi mèi quan hÖ phèi hîp khi thùc hiÖn phư­¬ng thøc nµy ngay c¶ trong néi bé Ngµnh kiÓm s¸t; c¬ quan cÊp trªn cña c¬ quan thi hµnh ¸n ®­­îc kiÓm s¸t;
- §æi míi ph¸t huy, nh©n réng kÕt qu¶ sau mçi cuéc kiÓm s¸t th«ng qua c¸c kiÕn nghÞ nh÷ng vÊn ®Ò lín ®iÓn h×nh tõng ®Þa phư­¬ng; vÊn ®Ò næi cém cña c¶ n­ưíc.
§Ó ho¹t ®éng kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù ®¹t kÕt qu¶ tèt h¬n, Vô kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù kiÕn nghÞ:
- L·nh ®¹o c¸c cÊp trong ngµnh kiÓm s¸t cÇn ®æi míi, ®Æt c¸c ho¹t ®éng kiÓm s¸t t­­ư ph¸p ngang b»ng ho¹t ®éng thùc hµnh quyÒn c«ng tè;
- Nghiªn cøu söa ®æi, bæ sung Quy chÕ c«ng t¸c KiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù theo yªu cÇu míi cña LuËt tæ chøc VKSND n¨m 2014 vµ LuËt söa ®æi, bæ sung mét sè ®iÒu cña LuËt thi hµnh ¸n d©n sù;
- §æi míi trong viÖc bè trÝ, s¾p xÕp vµ bæ sung c¸n bé cã n¨ng lùc lµm c«ng t¸c KiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù;
- Tæ chøc tËp huÊn c«ng t¸c kiÓm s¸t thi hµnh ¸n d©n sù ®Õn c¸n bé, KiÓm s¸t viªn cÊp huyÖn./.
 
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ,
CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH NHẰM THỰC HIỆN TỐT CHỨC NĂNG,
NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ
CHÍNH TRỊ CỦA ĐỊA PHƯƠNG
 
                                                        Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam
 
Nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tăng cường quản lý chỉ đạo, điều hành là nhằm nâng cao chất lượng công tác và phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị địa phương; trong những  năm gần đây và đặc biệt là năm 2014 VKSND tỉnh Hà Nam coi đây là một giải pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW, Kết luận số 92-KL/TW của Bộ Chính trị, thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác kiểm sát theo sự chỉ đạo tập trung thống nhất của VKS tối cao và phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chính trị địa phương. Bám sát Chỉ thị số 01 ngày 02/01/2014 của Viện trưởng VKSND tối cao về nhiệm vụ công tác năm 2014 là định hướng quan trọng đặt ra cho Ngành Kiểm sát nói chung, VKSND tỉnh Hà Nam nói riêng về phương châm “Đổi mới, chất lượng, kỷ cương, hướng về cơ sởđòi hỏi trách nhiệm, chất lượng hiệu quả cao hơn. Do vậy, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, VKSND tỉnh Hà Nam luôn xác định không ngừng đổi mới và tiếp tục tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành.
1. Trước hết tập trung chỉ đạo xây dựng Kế hoạch công tác năm, coi đây là nội dung quan trọng, là tiền đề để nâng cao chất lượng toàn diện trên mọi  mặt công tác. Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Viện thống nhất nhận thức, chủ trương và hành động nắm chắc tư tưởng, quan điểm chỉ đạo và các yêu cầu đặt ra của Viện trưởng VKSND tối cao về nhiệm vụ công tác đồng thời với việc quán triệt đầy đủ về các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND và các yêu cầu nhiệm vụ chính trị địa phương; dự báo tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm trên địa bàn kết hợp với những nội dung đã rút ra qua 01 năm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Ngành để xác định những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá. Ngay sau khi Hội nghị triển khai công tác của toàn Ngành, VKSND tỉnh Hà  Nam đã chủ động báo cáo  với Thường trực cấp ủy kịp thời tổ chức Hội nghị triển khai công tác của VKS 2 cấp ngày 21/01/2014, đến ngày 28/01/2014 các Phòng, các VKS huyện, thành phố trong tỉnh đã cơ bản xây dựng xong Chương trình, kế hoạch công tác; các Kế hoạch, Chương trình đều được tổng hợp, rà soát, đánh giá đối chiếu với những nhiệm vụ cụ thể của Ngành, 100% các đơn vị đã bám sát nhiệm vụ trọng tâm, đăng ký thực hiện những nhiệm vụ đột phá gắn với tình hình thực tế ở địa phương, đơn vị đồng thời đề ra những chỉ tiêu phấn đấu, những biện pháp chỉ đạo cụ thể. Các chủ trương, nhiệm vụ, Kế hoạch, Chương trình công tác đã được lãnh đạo VKS 2 cấp quán triệt, tổ chức chỉ đạo triển khai đồng bộ, đảm bảo kịp thời theo thời gian và tiến độ đề ra.
Thực hiện chủ trương “Hướng về cơ sở, ngay từ những tháng đầu năm, Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo VKS tỉnh đã tập trung thống nhất, chỉ đạo thành lập Đoàn kiểm tra do 01 đ/c lãnh đạo Viện làm trưởng đoàn để kiểm tra việc triển khai công tác năm ở tất cả các đơn vị qua đó đã rút ra những tồn tại, hạn chế, yêu cầu  bổ sung và đề ra biện pháp khắc phục, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, bất cập, đặc biệt là nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; việc phân công, phân nhiệm giữa lãnh đạo, KSV,...định thời gian hoàn thanh và công tác kiểm tra.
Trên cơ sở Kế hoạch, Chương trình công tác năm; các đơn vị đã chủ động xây dựng lịch công tác tuần, chương trình công tác tháng, quý một cách chi tiết cụ thể; cuối kỳ đều có kiểm điểm làm rõ chất lượng, hiệu quả công tác thông qua hoạt động giao ban; Văn phòng tổng hợp có trách nhiệm tổng hợp kết quả chung để thông báo đồng thời tham mưu cho lãnh đạo chỉ đạo, chấn chỉnh kịp thời.
2. Luôn tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo, ủng hộ của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
Hàng năm, VKS tỉnh đều chủ động báo cáo đề xuất Ban Thường vụ Tỉnh ủy đưa nội dung lãnh đạo, chỉ đạo Ngành kiểm sát vào chương trình công tác năm của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Năm 2014, VKS tỉnh đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy dự kiến ban hành Chỉ thị để chỉ đạo các cơ quan tư pháp thực hiện tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Quốc hội giao cho ngành tư pháp nói chung, VKSND nói riêng (theo Nghị quyết số 37 –NQ/QH, Nghị quyết số 63/-NQ/QH của Quốc hội), tiếp tục ban hành các văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo Ngành KSND tỉnh và các Ngành liên quan thực hiện tốt lộ trình cải cách tư pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phối hợp giữa các cơ quan nội chính. Kết quả trong năm 2014 Ban Cán sự Đảng VKS tỉnh đã tham mưu  với Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành, sửa đổi nhiều Quy định  về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Quy định về mối quan hệ phối hợp...đặc biệt là Chỉ thị số 23-CT/TU ngày 06/5/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác thi hành án trên địa bàn, tổ chức nhiều Hội nghị để quán triệt, triển khai thực hiện đến tất cả các cơ quan tư pháp, các cơ quan trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; VKS tỉnh đã ban hành Chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị nêu trên; 100%  các đơn vị VKS  cấp huyện đã chủ động tham mưu với Thường trực cấp ủy ban hành Thông tri chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp thực hiện tốt Nghị quyết số 37–NQ/QH, Nghị quyết số 63/-NQ/QH của Quốc hội, Chỉ thị số 06/CT-VKSTC của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, Thông tư 06 của Liên ngành tư pháp Trung ương hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật TTHS về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, coi đây là một quyết tâm chính trị rất cao của toàn ngành trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm.
Ngoài ra, đơn vị thường xuyên quan tâm đến mối quan hệ phối hợp giữa VKS tỉnh  với các Cục, Vụ, Viện thuộc VKSND tối cao; giữa VKS 2 cấp  với Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, cấp ủy, chính quyền địa phương để tranh thủ báo cáo, phối hợp đóng góp xây dựng pháp luật, trao đổi dự kiến những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung theo sự chỉ đạo của Ngành và các nhiệm vụ chính trị địa phương để đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, sự phối hợp chặt chẽ, mặt khác tăng cường sự phối hợp giữa cấp ủy Đảng với các tổ chức đoàn thể trong cơ quan đơn vị tạo ra sức mạnh tổng hợp trong nhận thức và hành động, chú trọng đến việc xây dựng và bổ sung hoàn thiện các Quy chế phối hợp, lề lối làm việc phù hợp với tình hình mới.
3. Tăng cường giáo dục, quản lý cán bộ, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng tự phê bình và phê bình; tích cực đổi mới công tác tổ chức cán bộ, thực hiện tốt các hình thức giám sát của nhân dân, củng cố kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, trong Ngành
VKS tỉnh thường xuyên chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, Ban Cán sự Đảng VKS tỉnh đã đề ra Kế hoạch chỉ đạo quán triệt, triển khai có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện  nay, kết hợp với việc thực hiện Chỉ thị 03 của  Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn với cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên  “Vững   về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật,  công tâm và bản lĩnh, kỷcương và trách nhiệm”; thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ “Cán bộ kiểm sát phải: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”... Kết hợp giữa quy định của Ngành, địa phương để quán triệt chỉ đạo thực hiện nghiêm việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương, phẩm chất đạo đức lối sống, từng bước nâng cao trách nhiệm đạo đức và lương tâm nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ trong Ngành.Phối hợp với Ban Thường vụ Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh chỉ đạo tăng cường sinh hoạt chuyên đề, từng bước nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng.
Trong nhiều năm nay, VKSND tỉnh Hà Nam đã đổi mới công tác tổ chức cán bộ từ khâu tuyển dụng đến khâu đào tạo, sử dụng cán bộ; việc tuyển dụng cán bộ thông qua kỳ thi tuyển nghiêm túc, bảo đảm chất lượng. Trên cơ sở kết quả đánh giá cán bộ, công chức hàng năm, Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo VKSND tỉnh đã nghiên cứu xắp xếp hợp lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Viện kiểm sát 2 cấp, đồng thời phân công nhiệm vụ phù hợp với năng lực, sở trường của cán bộ; chú trọng tăng cường cán bộ cho những đơn vị nhiều vụ, việc phức tạp.
Năm 2014, VKS tỉnh Hà Nam đã phối hợp với Ban tổ chức Tỉnh ủy tích cực thực hiện chủ trương đổi mới quy trình bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp Phòng và VKSND huyện, thành phố theo Quy định 266 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Quy trình bổ nhiệm cán bộ. Xây dựng  Kế hoạch, đăng ký, tổ chức kỳ thi thí điểm để tuyển chọn nguồn cán bộ bổ nhiệm chức vụ Phó Viện trưởng VKSND cấp huyện đạt chất lượng, hiệu quả theo chỉ đạo, hướng dẫn  của VKSND tối cao.
Trong quá trình hoạt động, VKS 2 cấp luôn tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình, tại trụ sở VKS tỉnh và VKSND huyện, thành phố đều đặt hòm thư góp ý, giao cho Văn phòng thiết lập đường dây nóng qua số điện thoại tạo điều kiện để nhân dân phản ánh, đóng góp ý kiến.
4. Tăng cường và giữ mối quan hệ phối hợp tốt với các cơ quan trong hệ thống chính trị đặc biệt là các cơ quan tư pháp ở địa phương
Viện kiểm sát 2 cấp luôn củng cố và giữ mối quan hệ phối hợp chặt chẽ các cơ quan tư pháp và các cơ quan trong hệ thống chính trị đặc biệt là các cơ quan tư pháp ở địa phương. Hàng quý VKS tỉnh chủ trì họp ba ngành làm án cấp tỉnh theo Quy định số 716 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Nam để tăng cường công tác phối hợp liên ngành.
Tích cực chủ động phối hợp với CQĐT, Tòa án, Cơ quan Thi hành án và các cơ quan hữu quan ký kết nhiều Quy chế phối hợp liên ngành nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác của Ngành và phục vụ nhiệm vụ chính trị. phối hợp thực hiện tốt chức  năng, nhiệm vụ...Đặc biệt cuối năm 2014, VKS 2 cấp của tỉnh đã kịp thời ký kết Quy chế phối hợp công tác với Ban Thường trực Ủy ban MTTQ cùng cấp nhằm tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác.
Viện kiểm sát 2 cấp luôn chú trọng phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng tham mưu cho cấp uỷ chỉ đạo, hỗ trợ chính quyền giải quyết có hiệu quả một số đơn khiếu nại, tố cáo phức tạp kéo dài; giải quyết kịp thời những vụ án được dư luận xã hội quan tâm; những vụ việc liên quan đến chính sách, đền bù giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh; tham mưu tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, chương trình phát triển nông thôn mới, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông thu hút đầu tư, phát triển thương mại dịch vụ. Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan tố tụng trong việc xây dựng án trọng điểm, án rút gọn, phối hợp với Toà án lựa chọn đưa đi xét xử lưu động tại địa bàn nơi xảy ra tội phạm những vụ án hình sự phức tạp, được dư luận quan tâm nhằm tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương.
5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
Công tác thanh tra, kiểm tra được xác định là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong ngành Kiểm sát nhân dân; thông qua công tác thanh tra, kiểm tra đã kịp thời phát hiện những thiếu sót, vi phạm, những việc chưa làm được hoặc làm chưa tốt để chấn chỉnh rút kinh nghiệm và xử lý kịp thời nhằm hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
Năm 2014, VKSND tỉnh Hà Nam tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ, công vụ và nội vụ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao ý thức trách nhiệm của công chức và người lao động; đã tiến hành kiểm tra việc triển khai thực hiện Kế hoạch công tác năm 2014 đối với 6/6 đơn vị VKS cấp huyện, kiểm tra toàn diện việc thực hiện Chỉ thị số 01/CT-VKSTC của Viện trưởng VKSND tối cao đối với 03 Phòng nghiệp vụ VKSND tỉnh và 03 VKS cấp huyện; kiểm tra theo chuyên đề 05 đơn vị cấp huyện. Triển khai kịp thời, nghiêm túc Chỉ thị số 05/CT-VKSTC của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân; tổ chức thanh tra theo kế hoạch đối với 03 đơn vị VKSND cấp huyện, 24 cuộc thanh tra đột xuất về chấp hành kỷ luật nội vụ; đã ban hành 02 thông báo kết quả kiểm tra, 08 thông báo kết quả thanh tra để rút kinh nghiệm đối với các đơn vị. Các phòng nghiệp vụ VKS tỉnh tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra với cấp huyện theo hướng chuyên sâu như rút hồ sơ một số vụ, việc để nghiên cứu; yêu cầu cấp huyện chuyển hồ sơ án đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; án trả hồ sơ để kiểm tra,... qua kiểm tra đã có kết luận để thông báo chung.
Trong nhiều năm qua, VKS tỉnh đã phối hợp với Công an tỉnh tiến hành kiểm tra liên ngành việc phân loại giải quyết, xử lý các vụ vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông tại Công an các huyện, thành phố, qua đó chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm nhằm chỉ đạo thực hiện tốt việc phòng ngừa và kiểm chế tai nạn, vi phạm luật lệ giao thông trên cả 03 tiêu chí. 
6. Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng
Công tác thi đua khen thưởng luôn được xác định giữ vị trí quan trọng; qua phong trào thi đua các cá nhân và tập thể được nhân lên, tạo động lực thúc đẩy cho việc hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ. Trong nhiều năm qua, công tác thi đua, khen thưởng của VKSND tỉnh Hà Nam có nhiều đổi mới; thực hiện nghiêm Luật Thi đua, khen thưởng và quy định của Ngành về công tác thi đua, khen thưởng; đầu năm VKSND tỉnh đã ký kết giao ước thi đua giữa 08 đơn vị thuộc khối thi đua Nội chính tỉnh để đẩy mạnh phong trào thi đua giữa các đơn vị; kịp thời khen thưởng đột xuất đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Công tác bình xét khen thưởng bảo đảm thực chất, nhằm tôn vinh những tập thể, cá nhân thực sự có thành tích; có biện pháp khuyến khích, động viên các tập thể, cá nhân có nhiều sáng kiến, cải tiến để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trong đơn vị. Công tác khen thưởng bảo đảm công bằng, khách quan nhằm động viên khuyến khích kịp thời.
Với các giải pháp đồng bộ trong việc tăng cường đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo điều hành nêu trên,  năm 2014 VKSND tỉnh Hà Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Ngành phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị địa phương, công tác xây dựng Đảng, xây dựng Ngành được chú trọng, nhiều đơn vị, nhiều khâu công tác có chuyển biến tích cực; công tác THQCT, kiểm sát  hoạt động tư  pháp trong lĩnh vực hình sự được nâng cao; các khâu công tác đột phá đã được triển khai tích cực, hiệu quả, như:nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố; “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”; tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm theo Chỉ thị của Viện trưởng VKS tối cao; tổ chức nhiều phiên tòa dân sự, hình sự rút kinh nghiệm; tăng cường công tác tuyên truyền về hoạt động của Ngành; đổi mới công tác tổ chức cán bộ để đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp.
Kết quả năm 2014, công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ giải quyết tố giác tin báo đạt  95% (vượt chỉ tiêu Ngành 5%), VKS tỉnh kịp thời tổ chức xác minh ban đầu và báo cáo về Cục Điều tra VKSND tối cao 04 tin về xâm phạm hoạt động tư pháp, Cục Điều tra đã khởi tố 01 tin về tội “nhận hối lộ” bị can là Nguyễn Duy Hiệp - quyền Chánh án TAND huyện Thanh Liêm. Tỷ lệ bắt giữ hình sự chuyển khởi tố đạt 98% (tăng 1%); kiểm sát 100% số vụ án hình sự ngay từ khi khởi tố, truy tố đúng hạn 100%, truy tố đúng tội 100%, tỷ lệ kháng nghị các loại được Tòa án xử chấp nhận đạt 87% (đều vượt chỉ tiêu theo Nghị quyết số 37-NQ/QH); không xảy ra việc bắt giữ, giam, khởi tố, điều tra, truy tố oan sai, không bỏ lọt tội phạm; các khâu công tác kiểm sát thi hành án; kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, kinh tế, lao động; kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp cũng hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ. Nội bộ đơn vị đoàn kết, gắn bó, cán bộ viên chức làm việc có trách nhiệm tạo phong trào thi đua sôi nổi có hiệu quả, được cấp ủy  đảng, chính quyền tin tưởng đánh giá cao, nhân dân đồng tình ủng hộ.
Kết thúc công tác năm 2014, VKSND tỉnh Hà Nam được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen về thành tích đột xuất trong việc phối hợp đấu tranh phòng, chống tội phạm phục vụ nhiệm vụ chính trị, Cờ thi đua đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; Đảng bộ VKSND tỉnh được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu, các tổ chức đoàn thể vững mạnh và đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN,
GIẢI QUYẾT VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CAO VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
 
Vụ khiếu tố, VKSND tối cao
 
I. Sự cần thiết phải đổi mới công tác tiếp công dân, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp
Những năm gần đây, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhiều khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dài đã được giải quyết; góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp còn có nhiều khuyết điểm, tồn tại, bất cập như: địa điểm tiếp công dân ở các địa phương, nhất là cấp tỉnh chưa được bố trí độc lập, còn đặt trong hoặc quá gần khu vực làm việc của cơ quan, có nơi còn phải tiếp công dân trong phòng làm việc của đơn vị khiếu tố; chưa đảm bảo thuận tiện cho công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh; việc tiếp công dân của đơn vị khiếu tố chưa gắn được với thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát, do vậy cán bộ chuyên trách tiếp công dân thuộc đơn vị khiếu tố hầu như không nắm cụ thể được nội dung vụ việc khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết để trả lời công dân; hoàn toàn bị động, phụ thuộc vào kết quả giải quyết của các đơn vị nghiệp vụ; công tác tiếp công dân chưa đảm bảo được việc giải quyết các yêu cầu của công dân theo tiêu chí “một cửa” của cải cách hành chính. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của VKSND còn tồn đọng nhiều, chất lượng giải quyết chưa đảm bảo cả về nội dung và hình thức, trình tự, thủ tục; công tác kiểm sát việc giải quyết đơn về hoạt động tư pháp chưa được các đơn vị nghiệp vụ quan tâm thực hiện.
Lý do của những tồn tại, bất cập nêu trên có nhiều, song lý do chính là việc phân công nhiệm vụ chưa phù hợp, chưa đảm bảo các quy định của pháp luật; giao cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc VKSND tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp liên quan đến hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của chính mình sẽ không đảm bảo được quy định của pháp luật, vì: khi có khiếu nại, tố cáo thì đã phát sinh 3 chủ thể: người khiếu nại, tố cáo; người bị khiếu nại, tố cáo; người giải quyết khiếu nại, tố cáo. Với việc giao cho các đơn vị nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo thì các đơn vị nghiệp vụ đồng thời giữ vai trò của 2 chủ thể vừa là người giải quyết, vừa là người bị khiếu nại, tố cáo, do đó dẫn đến khó đảm bảo được tính khách quan. Trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp thì các đơn vị nghiệp vụ thuộc VKSND đã được giao thực hành quyền công tố và tiến hành kiểm sát theo tố tụng đối với hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát đã có sự phối hợp trao đổi, thống nhất quan điểm về giải quyết vụ việc, đến khi có khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tư pháp trong thời gian rất gần với thời điểm có quyết định, hành vi tố tụng thì các đơn vị nghiệp vụ thường có xu hướng "xuôi chiều" bảo vệ các quan điểm của mình và quan điểm giải quyết của các cơ quan tư pháp; mặt khác, các đơn vị nghiệp vụ tập trung chủ yếu vào giải quyết án (đã quá tải) nên không có điều kiện nghiên cứu giải quyết và kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp. Trong khi đó nhiệm vụ giao cho đơn vị Khiếu tố chưa tương xứng với một đơn vị nghiệp vụ thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp; đồng thời là đơn vị chuyên sâu về công tác khiếu tố. Có những việc thuộc lĩnh vực khiếu tố (tham mưu cho lãnh đạo Viện giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc thẩm quyền của VKSND và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp) nhưng lại được giao cho đơn vị nghiệp vụ khác thực hiện làm cho công tác này bị phân tán (đơn vị nghiệp vụ nào cũng có chức năng giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp) hiệu quả công tác không đạt yêu cầu; công tác tiếp công dân, xử lý đơn không đáp ứng yêu cầu, đơn bị chuyển lòng vòng, đồng thời vị trí, vai trò của đơn vị khiếu tố trong thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân còn mờ nhạt; các đồng chí cán bộ, Kiểm sát viên công tác ở đơn vị khiếu tố chưa có điều kiện để phát huy năng lực, sở trường công tác của mình, không có môi trường để phát hiện xây dựng đội ngũ cán bộ theo hướng chuyên sâu, xây dựng Kiểm sát viên giỏi về công tác khiếu tố.
Từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn cần phải sửa đổi, bổ sung những quy định của ngành liên quan đến công tác tiếp công dân giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp theo hướng chuyên sâu tập trung vào một đơn vị theo đúng quan điểm chỉ đạo của Ban cán sự Đảng VKSND tối cao tại Kế hoạch số 09-KH/BCSĐ ngày 04/8/2014 triển khai thực thực hiện Chỉ thị số 35-CT/CTW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với  công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, tạo đổi mới từ mô hình "phân tán" sang mô hình "tập trung" theo hướng chuyên sâu, nâng cao hiệu quả và hoạt động thông suốt trong công tác khiếu tố, từ khâu tiếp dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đến giải quyết đơn về tư pháp thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp.
II. Thực trạng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp
1. Công tác tiếp công dân
1.1. Về địa điểm tiếp công dân
Toàn ngành Kiểm sát có 772 phòng tiếp công dân, trong đó có 190 Phòng tiếp công dân còn bố trí chung với phòng làm việc khác, 575 Phòng còn bố trí trong tòa nhà khu làm việc chung của cơ quan. Không những chưa đảm bảo thuận tiện cho công dân mà còn gây ồn ào không đảm bảo trật tự, an ninh của cơ quan, ảnh hưởng đến công việc chung của cán bộ, Kiểm sát viên trong cơ quan; việc thiết kế Phòng tiếp công dân còn tuỳ tiện, diện tích không giống nhau, chưa có mẫu thiết kế chung thống nhất; nhiều nơi chưa có cửa thoát hiểm phía sau không đảm bảo an toàn cho cán bộ tiếp dân.
1.2 Về nhiệm vụ tiếp công dân
 Hiện nay cán bộ chuyên trách tiếp công dân của đơn vị Khiếu tố tiếp dân chỉ đơn thuần là nhận đơn để chuyển các đơn vị nghiệp vụ hoặc có đối thoại với công dân cũng chỉ mang tính chất giải thích pháp luật, chứ không giải quyết được yêu cầu của công dân. Nhiều lượt công dân đến Phòng tiếp công dân của Viện kiểm sát các cấp nhưng không gặp được cán bộ có trách nhiệm tham mưu giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền hoặc cán bộ được giao trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, do vậy công dân phải đi lại nhiều rất bức xúc. Trong thời gian 5 năm (từ 2009 đến 2013) toàn Ngành đã xảy ra 53 trường hợp đến Phòng tiếp công dân có biểu hiện gây rối, quá khích. Việc tiếp công dân của đơn vị Khiếu tố chưa gắn với thẩm quyền giải quyết và trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp theo yêu cầu của Luật Tiếp công dân năm 2014; chưa đảm bảo được việc giải quyết các yêu cầu của công dân theo tiêu chí “một cửa” của cải cách hành chính
2. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp
 Theo quy định tại Quy chế số 59 ngày 06/02/2006 các đơn vị nghiệp vụ có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất hướng giải quyết đối với khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp liên quan đến phạm vi trách nhiệm của đơn vị mình. Qua công tác công tác tổng kết, đánh giá của VKSND tối cao cho thấy còn nhiều tồn tại, hạn chế có việc thuộc thẩm quyền nhưng không thụ lý để giải quyết mà hướng dẫn người khiếu nại gửi đơn đến cơ quan tư pháp khác, ví dụ như trường hợp khiếu nại Cáo trạng của VKS nhiều đơn vị lại hướng dẫn người khiếu nại chờ kết quả xét xử của Tòa án; thời hạn giải quyết nhiều vụ việc còn để kéo dài, không lập hồ sơ giải quyết, hoặc lập chưa đầy đủ theo quy định; chất lượng giải quyết chưa đảm bảo cả về nội dung lẫn hình thức, trình tự, thủ tục. Qua kiểm tra của Vụ 7 đối với việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp năm 2013 thấy tỷ lệ giải quyết còn thấp; các đơn vị nghiệp vụ giải quyết được 22 đơn/71 đơn khiếu nại, tố cáo đạt 31%; trong số đơn đã giải quyết chỉ có 3 đơn/22 đơn được giải quyết cơ bản đảm bảo đúng quy định, đạt 14%. Theo báo cáo của Viện kiểm sát các cấp trong 5 năm (2009 - 2013) cho thấy có 53/9363 số việc khiếu nại đã giải quyết có vi phạm pháp luật phải hủy đi để giải quyết lại; có vụ việc chưa được xác minh đầy đủ, chưa xem xét thấu đáo, chưa đối thoại với người với người khiếu nại đã ra quyết định giải quyết không chấp nhận khiếu nại đúng pháp luật của công dân
Đối với đề nghị xem xét lại quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật, loại đơn này không nhiều nhưng đều có ở 3 cấp Kiểm sát và tập trung chủ yếu ở lĩnh vực tố tụng hình sự. Do pháp luật chưa có quy định và các cơ quan tư pháp Trung ương chưa có hướng dẫn cụ thể cách thức giải quyết và cấp có thẩm quyền xem xét loại đơn đã có quyết định giải quyết cuối cùng nên khi nhận được loại đơn này các VKS địa phương, và các đơn vị nghiệp vụ thuộc VKS tối cao đưa ra cách xử lý khác nhau: có đơn vị thì trả lại đơn đề nghị cho đương sự; có đơn vị thì xếp lưu; có đơn vị thì tự kiểm tra xem xét lại và trả lời cho đương sự (đối với đơn đề nghị xem xét lại quyết định khiếu nại cuối cùng của cấp mình); có đơn vị thì hướng dẫn đương sự gửi lên cấp trên (đối với cấp huyện và cấp tỉnh) với lý do hết thẩm quyền; có đơn vị thì chuyển đơn về cấp đã ra quyết định giải quyết cuối cùng để cấp đó tự kiểm tra xem xét lại với lý do không có thẩm quyền giải quyết. Trong biểu mẫu thống kê chưa có mục để thống kê số liệu đơn đề nghị xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, do vậy chưa có số liệu thống kê chính xác được loại đơn này.
3. Công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp
Theo quy định tại Quy chế số 59 ngày 06/2/2006 và Quyết định số 487 ngày 4/9/2008 của Viện trưởng VKSND Tối cao thì các đơn vị nghiệp vụ có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp. Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân các cấp khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp thuộc trách nhiệm kiểm sát do đơn vị Khiếu tố chuyển đến thì hầu như chỉ làm thao tác chuyển đơn cho các cơ quan tư pháp coi như xong và không bám sát, theo dõi được kết quả giải quyết của các cơ quan tư pháp nên khi đã quá hạn giải quyết vẫn chưa được các cơ quan tư pháp giải quyết, hoặc đã giải quyết nhưng không đúng pháp luật thì các đơn vị nghiệp vụ cũng không nắm được để áp dụng các biện kiểm sát cần thiết theo quy định và ban hành kiến nghị để các cơ quan tư pháp khắc phục, chấn chỉnh phòng ngừa vi phạm pháp luật. Kết quả kiểm tra năm 2013 của Vụ 7 đối với các đơn vị nghiệp vụ VKSTC về công tác này cho thấy các đơn vị nghiệp vụ tiếp nhận 60 đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp thuộc trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết, đều được các đơn vị nghiệp vụ xử lý bằng phương thức chuyển đơn, chưa quản lý theo dõi được kết quả giải quyết; đáng chú ý có 12 đơn khiếu nại không được chuyển kịp thời cho Cơ quan CSĐT – BCA để giải quyết theo thẩm quyền. Ở VKS các địa phương, có đơn vị sau gần 1 năm mới có văn bản yêu cầu cơ quan tư pháp giải quyết khiếu nại...Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát còn hạn chế.
Nguyên nhân của những tồn tại bất cập nêu trên là vì:
- Việc giao nhiệm vụ giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp không còn phù hợp, không đáp ứng được các yêu cầu hiện tại và chưa đảm bảo các quy định của pháp luật về giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;
- Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác khiếu tố của một số đơn vị trong ngành còn hạn chế;
- Việcđầu tư của Ngành cho công tác khiếu tố còn nhiều bất cập.
 III. Một số giải pháp đổi mới công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp
1. Đổi mới công tác tiếp dân của Viện kiểm sát các cấp
- Về hình thức: Tách địa điểm tiếp công dân khỏi khu vực làm việc, nhưng vẫn nằm trong khuôn viên cơ quan, đảm bảo tính thống nhất về hình thức và nội dung trong toàn ngành Kiểm sát; tạo điều kiện thuận lợi để công dân đến khiếu nại, tố cáo và kiến nghị, phản ánh; đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo điều hành đối với công tác tiếp công dân của Viện kiểm sát các cấp.
- Về nội dung: Đổi mới việc tiếp công dân phải gắn với trách nhiệm giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp tiếp công dân của các đơn vị nghiệp vụ có liên quan của Viện kiểm sát các cấp. Mục đích là phục vụ nhân dân trong công tác tiếp công dân theo hướng "một cửa" đảm bảo chính xác, đầy đủ, giảm đơn chuyển lòng vòng và tạo thuận tiện cho công dân.
2. Đổi mới công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp
Đơn vị Khiếu tố có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất với lãnh đạo Viện về trình tự, thủ tục, thể thức văn bản giải quyết; đồng thời tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, gặp gỡ đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và lợi ích liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại; xây dựng hồ sơ, dự thảo văn bản giải quyết, trình lãnh đạo Viện xem xét quyết định;
Các đơn vị nghiệp vụ có liên quan có trách nhiệm phối hợp với đơn vị Khiếu tố để cung cấp văn bản giải trình của người bị khiếu nại, tố cáo, ý kiến của đơn vị mình và các tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đơn vị Khiếu tố tiến hành xác minh, gặp gỡ đối thoại với người bị khiếu nại khi thấy cần thiết.
Đổi mới để đưa nhiệm vụ kiểm tra đối với đơn đề nghị xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKSND thành một quy định mang tính bắt buộc đối với những khiếu nại được dư luận quan tâm, những khiếu nại bức xúc kéo dài, có dấu hiệu oan, sai để xem xét vụ việc một cách thấu đáo với mục đích đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và cũng là làm tròn trách nhiệm với công dân là nhiệm vụ rất cần thiết. Theo đó, khi đương sự có đơn đề nghịxem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKSND thì Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kiểm tra lại việc giải quyết của Viện kiểm sát cấp dưới và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát đã được kiểm tra và người có đơn biết.
 3. Đổi mới công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp
Đơn vị Khiếu tố có nhiệm vụ: tham mưu, giúp Viện trưởng Viện kiểm sát thực hiện việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp; đề nghị các đơn vị nghiệp vụ cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp dưới phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu, trao đổi ý kiến trực tiếp hoặc bằng văn bản để xác định vi phạm của các cơ quan tư pháp trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; chủ trì và đề nghị các đơn vị nghiệp vụ cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp dưới phối hợp cử Kiểm sát viên tham gia khi tiến hành các cuộc kiểm sát trực tiếp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp; báo cáo đề xuất, dự thảo các văn bản kiến nghị, kháng nghị đối vớicơ quan tư pháp về công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp trình Lãnh đạo VKSND ký ban hành;
Các đơn vị nghiệp vụ có liên quan có nhiệm vụ: phối hợp thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời những vấn đề về nghiệp vụ có liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo theo đề nghị của đơn vị Khiếu tố; chủ động thông báo kịp thời cho đơn vị Khiếu tố các vi phạm trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp thông qua công tác chuyên môn, nghiệp vụ của mình.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ đảm bảo được sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung có trọng điểm của Lãnh đạo VKSND đối với từng lĩnh vực công tác; giúp Viện trưởng VKSND thực hiện có hiệu quả công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát; kiểm tra, xác minh lại các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các đơn vị nghiệp vụ khi bị khiếu nại, tố cáo - tăng cường cơ chế kiểm soát nội bộ; phát huy năng lực, sở trường công tác, tích lũy kinh nghiệm, xây dựng hoạt động nghiệp vụ chuyên sâu, phát hiện đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên giỏi trong lĩnh vực hoạt động của công tác khiếu tố; đồng thời kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp khác để kiến nghị khắc phục, phòng ngừa vi phạm; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao hiệu quả công tác khiếu tố của ngành Kiểm sát.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CỦA NGÀNH, GÓP PHẦN THỰC HIỆN TỐT LUẬT TỔ CHỨC
VIỆN KIỂM SÁT NĂM 2014
 
 
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
 
Ngày 24/4/2013, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát Hà Nội, đánh dấu một bước quan trọng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho ngành Kiểm sát nhân dân. Theo Đề án Thành lập trường đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội có nhiệm vụ đào tạo trình độ đại học, sau đại học theo chỉ tiêu, kế hoạch được giao; đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ngành Kiểm sát theo quy định của pháp luật và của VKSNDTC; triển khai hoạt động khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo... Việc thành lập Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội là tiền đề quan trọng để Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ cho Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên, công chức khác và viên chức của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật”. Như vậy, việc thực hiện tốt nhiệm vụ và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ  chính là góp phần thực hiện tốt Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA TRƯỜNG TRONG NĂM 2014
Được sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo VKSND tối cao, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thách thức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong năm 2014, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã tổ chức triển khai các Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, đặc biệt tổ chức thực hiện Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 02/01/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kế hoạch số 02/KH-VKSTC-V9 ngày 14/01/2014 của Viện trưởng VKSNDTC về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ngành Kiểm sát nhân dân năm 2014; thực hiện tốt kế hoạch, chương trình công tác năm 2014 của trường đã đề ra.
Một số kết quả nổi bật đạt được trong việc thực hiện chức nhiệm vụ:
1. Công tác đào tạo Đại học
Trường đã xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo với tổng số 03 khóa học, số lượng677 sinh viên, học viên. Trong đó: Đại học kiểm sát chính quy với số lượng 520 sinh viên (tổng sinh viên khóa 1 và 2), Đại học lớp Văn bằng 2 với số lượng 157 học viên. Để chuẩn bị cho công tác tuyển sinh Đại học kiểm sát khóa 3, nhà trường đã xây dựng Đề án tuyển sinh Đại học năm 2015, trên cơ sở quy định mới của Bộ Giáo dục và đào tạo về công tác tuyển sinh (xét tuyển) và phù hợp với Đề án Thành lập Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã được phê duyệt, số lượng sinh viên Đại học kiểm sát khóa 3 dự kiến sẽ là 400 chỉ tiêu.
2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Trường đã triển khai giảng dạy 20 khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho1720 học viên, cụ thể:
- Đào tạo 02 khóa nghiệp vụ kiểm sát với số lượng gồm 234 học viên. Trong đó: Một khóa nhà trường đã cấp chứng chỉ nghiệp vụ kiểm sát và kết thúc hoàn thành khóa học; hiện nhà trường đang tiếp tục đào tạo khóa 17 nghiệp vụ kiểm sát (cho những người đã có bằng Cử nhân luật nhưng chưa đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát).
- Đào tạo 02 khóa nghiệp vụ điều tra hình sự, với số lượng 78 học viên là Điều tra viên, đã cấp chứng chỉ nghiệp vụ điều tra hình sự và kết thúc hoàn thành khóa học.
- Tổ chức 16 khóa bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ chuyên sâu về công tác nghiệp vụ của ngành với số lượng 1408 học viên.
3. Công tác nghiên cứu khoa học và biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu bồi dưỡng
Ngay từ đầu năm 2014, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã xây dựng và ban hành Quy định về công tác nghiên cứu khoa học của Trường, đã tiến hành triển khai thực hiện 33 chuyên đề, đề tài cấp khoa, phòng và cấp trường phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng và phục vụ những nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Ngành.
Năm 2014, nhà trường đã triển khai biên soạn, nghiệm thu 17 đầu giáo trình Đại học Kiểm sát Hà Nội. Tổ chức triển khai rà soát chỉnh sửa, bổ sung các bài giảng liên quan đến văn bản pháp luật mới được ban hành, sửa đổi, bổ sung để triển khai giảng dạy cho các khóa đào tạo, bồi dưỡng. Tổ chức xây dựng 10 chương trình khung và tài liệu bồi dưỡng đã được Viện kiểm sát tối cao phê duyệt.
Thực hiện chức năng quản lý Trang thông tin điện tử và tờ Tạp chí Khoa học Kiểm sát của trường. Tạp chí Khoa học Kiểm sát là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu lý luận, nghiệp vụ, khoa học và phương pháp giảng dạy phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học, đồng thời cập nhật nhanh chóng, kịp thời các kết quả nghiên cứu khoa học pháp lý trong và ngoài nước. Trong năm 2014, Tạp chí Khoa học Kiểm sát xuất bản được 04 số.
4. Hoạt động hợp tác quốc tế
Nhà trường tích cực triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế  trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu pháp luật. Năm 2014, nhà trường đã tổ chức thành công 10 buổi Hội thảo khoa học quốc tế tại trường; đồng thời đã cử nhiều giảng viên tham gia các chuyến công tác, hội thảo, hội nghị quốc tế để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trong các lĩnh vực liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học.
Nhìn chung, trong năm 2014 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học theo kế hoạch được giao. Nhà trường đã triển khai thực hiện, hoàn thành tốt  Đề án tuyển sinh Đại học Kiểm sát khóa 2, hoàn thành xây dựng Đề án tuyển sinh Đại học Kiểm sát khóa 3; tổ chức giảng dạy và kiểm tra chất lượng đào tạo các khóa Đại học, các khóa nghiệp vụ kiểm sát, các khóa nghiệp vụ điều tra, các khóa bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu nghiệp vụ của Ngành; xây dựng chương trình khung, hệ thống giáo trình, tài liệu học tập cho các chương trình đào tạo, đảm bảo chất lượng giảng dạy và học tập; đổi mới nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng; tăng cường công tác quản lý giảng dạy và học tập; thực hiện nghiêm túc các quy định của Nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng từng bước đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho ngành KSND.
Năm 2014, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã đạt được nhiều thành tích quan trọng. Có được những thành tích trên là do: luôn có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Đảng uỷ, Ban Giám hiệu nhà trường luôn đoàn kết, gương mẫu, trách nhiệm; các đơn vị trong trường luôn có sự phối hợp hoạt động trên cơ sở chức trách, nhiệm vụ của mình để hoàn thành nhiệm vụ chung; có sự ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ của các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các VKSND địa phương; đội ngũ cán bộ, giảng viên luôn có nhiệt huyết, có tinh thần cầu thị, ham học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, luôn khắc phục khó khăn, phấn đấu tự vươn lên để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
 Tuy nhiên, trong bối cảnh nhà trường đang tiến hành chuyển đổi quy mô đào tạo, nhiều công tác của trường mới được triển khai lần đầu, đội ngũ giảng viên nhà trường tuy đã được bổ sung về số lượng và nâng cao về chất lượng, song một bộ phận vẫn chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ được giao. Đa số giảng viên mới được tuyển dụng nên kinh nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động nghiệp vụ của Ngành còn hạn chế. Cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị, tài liệu phục vụ cho đào tạo đại học còn thiếu, chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu học tập của học viên, sinh viên. Hiện nay, trụ sở nhà hành chính, ký túc xá và một số công trình khác đang triển khai xây dựng, các lớp đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu đang phải thuê trụ sở ngoài. Đời sống của công chức, viên chức còn nhiều thiếu thốn, nguồn kinh phí chủ yếu do VKSND tối cao cấp. Số lượng sinh viên, học viên tăng theo năm.
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GẮN VỚI VIỆC  THỰC HIỆN LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NĂM 2014
Từ những kết quả đạt được và những thuận lợi, khó khăn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng năm 2014, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của ngành kiểm sát trong thời gian tới gắn với việc tổ chức triển khai, thực hiện tốt Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 như sau:
1. Tổ chức triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nhiệm vụ và để thực hiện Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
- Tiếp tục triển khai nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để tạo nguồn nhân lực cho Ngành như: Đào tạo đại học, Đào tạo nghiệp vụ Kiểm sát, Đào tạo nghiệp vụ điều tra và các loại hình đào tạo khác theo quy định của Ngành và của pháp luật.
- Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có liên quan của VKSNDTC đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên, công chức khác và viên chức của Viện kiểm sát nhân dân theo những tiêu chuẩn mới được quy định trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014. Xác định rõ đối tượng, loại hình đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng chương trình, nội dung đào tạo cho phù hợp với các tiêu chí của từng chức danh, từng vị trí việc làm
- Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, chú trọng giáo dục rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị của học viên, sinh viên. Đổi mới  phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chú trọng rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống, gắn việc đào tạo lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành, gắn việc đào tạo tại trường với việc tổ chức cho học viên, sinh viên đi kiến tập, thực tập tại các Viện kiểm sát địa phương.
2. Đổi mới công tác tuyển sinh Đại học Kiểm sát hệ chính quy
Tuyển sinh Đại học Kiểm sát chính quy là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Trường. Trước mắt, nhà trường tổ chức xây dựng Đề án và thực hiện tốt công tác tuyển sinh Đại học Kiểm sát năm 2015 theo các định hướng sau:
- Công tác tuyển sinh phải trên cơ sở các quy định của Luật Giáo dục đại học năm 2012, Quy định về tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quán triệt các quan điểm về đổi mới giáo dục và đào tạo tại Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đồng thời, phải trên cơ sở các yêu cầu về tuyển dụng cán bộ vào ngành Kiểm sát.
- Phương thức tuyển sinh phải được đổi mới theo hướng kết hợp sử dụng kết quả học tập ở phổ thông và điểm thi tuyển, xét tuyển, yêu cầu về sức khỏe, tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo đức của người dự tuyển theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định riêng của ngành Kiểm sát; đảm bảo cơ cấu vùng miền, tỷ lệ nam, nữ hợp lý và bảo đảm chất lượng.
- Thực hiện chủ trương ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và trên cơ sở nhu cầu tuyển dụng cán bộ của ngành Kiểm sát đảm bảo tính cân đối của các vùng, miền, giới tính.
Trong năm 2015, Trường sẽ tuyển sinh khoảng 400 chỉ tiêu, trong đó, các tỉnh từ Quảng trị trở ra 200 chỉ tiêu, các tỉnh từ Huế trở vào 200 chỉ tiêu.
3. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, biên soạn, hoàn thiện chương trình, giáo trình
Trường luôn xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng giáo trình, tài liệu và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Công tác nghiên cứu khoa học của trường trong thời gian tới tập trung làm rõ những chế định mới của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự và của các đạo luật mới được ban hành để cập nhật, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chương trình, giáo trình, bài giảng, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng của Tạp chí Khoa học kiểm sát của trường. Nâng cao chất lượng website trường, trở thành địa chỉ truy cập, tìm hiểu, nghiên cứu đáng tin cậy của cán bộ trong và ngoài Ngành. Năm 2015, trường sẽ phải tập trung biên soạn mới và sửa đổi, bổ sung các giáo trình và tập bài giảng theo những nội dung mới được quy định trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
4. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ có chất lượng
Năm 2013 - 2014, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội được Viện Kiểm sát nhân dân tối cao giao 137 biên chế. Hiện nay, đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường có 78 giảng viên cơ hữu, 9 tiến sĩ, 50 thạc sĩ (20 người đang làm nghiên cứu sinh). Lực lượng này tuy đã là sự phát triển vượt bậc so với thời điểm trước khi thành lập Trường Đại học kiểm sát Hà Nội. Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ của một trường đại học vừa đảm nhận nhiệm vụ đào tạo trình độ đại học, vừa phải tiếp tục làm các nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ kiểm sát và bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ trong ngành thì còn cần phải được bổ sung nhiều hơn nữa. Mặt khác, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội cũng cần được tiếp tục kiện toàn các tổ bộ môn của các khoa, các đơn vị để nâng cao hiệu quả hoạt động đáp ứng các yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
THI ĐUA - KHEN THƯỞNG CỦA NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI
 
Vụ Thi đua - Khen thưởng VKSND tối cao
 
Thi đua và khen thưởng có ý nghĩa rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thi đua yêu nước có sức mạnh to lớn bởi vì trong thi đua, sức mạnh của cá nhân cũng như của tập thể được nhân lên gấp bội, tạo động lực và khả năng hoàn thành tốt những nhiệm vụ to lớn mà Đảng, Nhà nước đã đặt ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất” và Người khẳng định “Cùng nhau đẩy mạnh thi đua yêu nước thì khó khăn gì cũng khắc phục được, nhiệm vụ gì cũng hoàn thành tốt”. Chính vì công tác thi đua, khen thưởng có vị trí đặc biệt như vậy nên năm 2003, Luật thi đua, khen thưởng đã được Quốc hội ban hành và đến nay đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần (năm 2005 và năm 2013). Cùng với Luật thi đua, khen thưởng, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định và Bộ Nội vụ đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn thi hành với mục tiêu làm cho công tác thi đua khen thưởng hoạt động theo thể chế, có hiệu quả và thực sự đi vào cuộc sống. Để cụ thể hóa Luật thi đua, khen thưởng phù hợp với chức năng nhiệm vụ và đặc điểm tổ chức của Ngành, Viện trưởng VKSND tối cao đã có Quyết định số 307/QĐ-VKSTC ngày 03/7/2008 ban hành Quy chế thi đua, khen thưởng ngành Kiểm sát nhân dân.
Quán triệt quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và nội dung thi đua được xác định trong các Chỉ thị của Đảng và của Chính phủ, VKSND tối cao đã xác định thi đua yêu nước là động lực quan trọng thúc đẩy toàn bộ hệ thống ngành Kiểm sát nhân dân hăng hái vươn lên hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Trong những năm qua, căn cứ vào các phong trào thi đua do Đảng và Nhà nước phát động cũng như yêu cầu thực tiễn, VKSND tối cao đã tổ chức phát động nhiều đợt thi đua với các nội dung thiết thực, gắn việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ với công tác xây dựng Ngành. Hàng năm, cùng với việc triển khai nhiệm vụ công tác kiểm sát, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Chỉ thị về công tác thi đua, khen thưởng, hướng trọng tâm công tác thi đua vào việc nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm về cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Kiểm sát nhân dân trong sáng về phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh chính trị, nắm vững kiến thức pháp lý và nghiệp vụ kiểm sát, có ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân.
Từ sau Đại hội Thi đua yêu nước của ngành Kiểm sát lần thứ IV (tháng 7/2010), phát huy những thành tích đã đạt được, Viện trưởng VKSND tối cao đã phát động các đợt thi đua với chủ đề “Thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI” và hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” cùng với phong trào thi đua xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”; phong trào thi đua “Chào mừng Kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ” và mới đây là phong trào thi đua “Chào mừng kỷ niệm 55 năm ngày thành lập ngành Kiểm sát nhân dân, chào mừng Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX”. Các đơn vị trong toàn Ngành đã nghiêm túc quán triệt Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao, tổ chức phát động phong trào thi đua với các nội dung thiết thực cụ thể, gắn việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Ngành với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Chính vì có sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của VKDND các cấp nên kết quả của các phong trào thi đua phát động trong toàn Ngành là đáng khích lệ, nhiều chỉ tiêu nghiệp vụ cơ bản theo các Nghị quyết của Quốc hội và theo quy định của Ngành đều đạt và vượt, chất lượng của các khâu công tác kiểm sát ngày càng được nâng lên, thành tích năm sau tiến bộ hơn năm trước và được Hội đồng thi đua, khen thưởng các cấp ghi nhận. Các đơn vị trong toàn Ngành đều gắn nội dung phấn đấu thực hiện các chủ đề của phong trào thi đua với mục tiêu là: nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đẩy nhanh tiến độ giải quyết án, hạn chế đến mức thấp nhất việc để xảy ra oan sai; nâng cao chất lượng kháng nghị và chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa; kiểm sát tốt việc giam giữ, thi hành án; tăng cường phát hiện vi phạm của các cơ quan tư pháp để kháng nghị, kiến nghị; tập trung hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng các nhiệm vụ trọng tâm về cải cách tư pháp; kiện toàn cán bộ lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác quản lý chỉ đạo, điều hành; xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân trong sạch vững mạnh… Hội đồng Thi đua - Khen thưởng ngành Kiểm sát nhân dân đã xét, trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước tặng Huân chương các loại, trình Thủ tướng Chính phủ, đề nghị Viện trưởng VKSND tối cao tặng các danh hiệu thi đua cho nhiều tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua nói trên.
Trong quá trình tổ chức các phong trào thi đua do Viện trưởng VKSND tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phát động, các Viện kiểm sát quân sự cũng đã đạt nhiều thành tích. Ngoài các danh hiệu thi đua do Viện trưởng VKSND tối cao tặng, năm 2011, Viện kiểm sát quân sự Trung ương đã được Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tặng “Cờ đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng”. Tổng kết phong trào này, nhiều tập thể được tặng danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”, nhiều cá nhân được tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở”. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống ngành Kiểm sát quân sự, Viện kiểm sát quân sự Trung ương đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.
Nhìn lại kết quả tổ chức và thực hiện phong trào thi đua theo chủ đề và thi đua thường xuyên trong thời gian qua, có thể thấy rằng, nhận thức về công tác thi đua trong toàn Ngành đã được nâng lên; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã được quan tâm. Đã xuất hiện nhiều tập thể không ngừng phấn đấu, liên tục duy trì được thành tích cao và là những nhân tố tiêu biểu cho toàn Ngành học tập. Nhiều đơn vị như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Ninh Bình, Nghệ An, Phú Yên, Đắc Lắc, Vĩnh Long, Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang… liên tục đạt Cờ thi đua của Chính phủ và Cờ thi đua của Ngành, trong đó nổi bật là các đơn vị Quảng Ninh, An Giang nhiều năm liên tục giành Cờ thi đua của Chính phủ.
Tuy nhiên, trong việc tổ chức phát động các phong trào thi đua và công tác khen thưởng, bên cạnh những thành tích đã đạt được còn bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót như: có không ít đơn vị không tổ chức phát động thi đua hoặc có tổ chức phát động thi đua nhưng chưa thực sự gắn phong trào thi đua với nội dung công tác phù hợp với nhiệm vụ cụ thể của mình, không tổ chức phối hợp với các tổ chức đoàn thể quần chúng để phát động thi đua; không tổ chức đăng ký thi đua hoặc có đăng ký thi đua nhưng không gửi hoặc chậm gửi, gửi không đúng thời gian quy định về VKSND tối cao; chưa chú trọng việc kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết công tác thi đua, khen thưởng và nhân rộng điển hình tiên tiến; xét công nhận danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” còn có biểu hiện tràn lan, không thực chất, chưa xem xét một cách nghiêm túc tới các giải pháp, sáng kiến trong công tác; tỷ lệ khen thưởng cho  người trực tiếp làm việc còn rất ít mà chủ yếu là lãnh đạo từ cấp phòng và tương đương trở lên; đề nghị hai hình thức khen thưởng cấp nhà nước trong cùng một thời điểm; việc quản lý kết quả thi đua, khen thưởng của các đơn vị trong Ngành chưa được coi trọng đúng mức, thành tích của tập thể, của cá nhân chưa được cập nhật thường xuyên, kịp thời…
Sở dĩ công tác thi đua, khen thưởng còn những hạn chế, thiếu sót như đã nêu trên là do: văn bản hướng dẫn thi hành Luật thay đổi nhiều; tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng không chuyên trách; công tác lãnh đạo chỉ đạo, vai trò của người đứng đầu và của cấp ủy chưa được đề cao, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hiện công tác thi đua, khen thưởng; trách nhiệm và năng lực của các bộ phận, cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng còn hạn chế; công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ chưa được coi trọng; việc kiểm tra, thông báo, rút kinh nghiệm chưa thường xuyên, kịp thời; công tác tuyên truyền, xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến chưa được quan tâm đúng mức; việc quản lý, theo dõi thành tích thi đua của tập thể, cá nhân chưa được coi trọng…
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của ngành KSND trong tình hình mới, cần triển khai thực hiện tốt các giải pháp sau đây:
1. Tổ chức quán triệt, học tập và chỉ đạo thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua - khen thưởng, Kế hoạch số 11-KH/BCSĐ ngày 16/10/2014 của Ban cán sự Đảng VKSND tối cao và Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày 16/10/2014 của Viện trưởng VKSND tối cao về tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Kiểm sát nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức ngành KSND về vai trò, vị trí của công tác thi đua khen thưởng đối với sự phát triển của Ngành nói riêng và sự nghiệp công nghiệp đại hóa, hiện đại hóa nói chung.
2. Tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý chỉ đạo điều hành của lãnh đạo VKSND các cấp và các đơn vị trực thuộc, phối hợp với các tổ chức, đoàn thể nhằm tổ chức tốt hơn phong trào thi đua và công tác khen thưởng, đồng thời có biện pháp khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong công tác thi đua khen thưởng. Cấp ủy đảng các cấp cần xây dựng kế hoạch tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác thi đua khen thưởng theo hướng bổ sung vào nội dung này trong sinh hoạt thường xuyên của các tổ chức đảng. Việc lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, lãnh đạo VKSND các cấp đối với công tác thi đua khen thưởng phải bám sát nhiệm vụ trọng tâm của Ngành về đổi mới các hoạt động nghiệp vụ kiểm sát và nâng cao chất lượng hiệu quả các khâu công tác kiểm sát, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu trong giao ước thi đua hằng năm…
2. Về xây dựng thể chế và bộ máy chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng: Cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Quy chế số 307 về công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Kiểm sát nhân dân phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc; xây dựng bộ máy chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng của VKSND cấp tỉnh theo tinh thần Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng và Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày 16/10/2014 của Viện trưởng VKSND tối cao nhằm tạo sự thống nhất, ổn định từ Trung ương đến địa phương, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng để đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian tới.
3. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá, chấm điểm thi đua để bảo đảm việc thẩm định, xét đề nghị khen thưởng đúng với thành tích đạt được, đồng thời tổ chức thi đua theo cụm có chung nét tương đồng về điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm địa lý, khối có chung tính chất công việc… nhằm bảo đảm việc khen thưởng có tác dụng động viên, khích lệ phong trào…
4. Đổi mới biện pháp tổ chức phong trào thi đua như: Tổ chức ký kết giao ước thi đua theo các khu vực, các khối do Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Ngành chủ trì với nội dung và hình thức thi đua phong phú, đa dạng thu hút đông đảo cán bộ, công chức, viên chức tham gia phong trào thi đua. Phải xây dựng chương trình, mục tiêu, yêu cầu cụ thể cho mỗi phong trào thi đua, tránh phát động chung chung. Tăng cường công tác kiểm tra việc tổ chức thực hiện phong trào thi đua và thực hiện nghiêm túc việc sơ kết, tổng kết nhằm rút ra những điểm mạnh, điểm yếu để có biện pháp khắc phục kịp thời, đưa phong trào thi đua ngày một đạt hiệu quả thiết thực hơn.
5. Đổi mới công tác khen thưởng và phát hiện bồi dưỡng, nhân điển hình tiên tiến: Xác định định hướng cụ thể và chương trình, kế hoạch rõ ràng về việc xây dựng các điển hình tiên tiến. Chủ động phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến, có biện pháp khuyến khích, động viên các tập thể, cá nhân có nhiều sáng kiến, cải tiến để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trong đơn vị; Quan tâm đúng mức đến khen thưởng người trực tiếp lao động, tập thể nhỏ.
6. Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền để khích lệ, cổ vũ toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong toàn Ngành phấn đấu thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ thông qua các tin, bài viết về gương người tốt việc tốt trong các lĩnh vực công tác của Ngành. Tổ chức hội nghị phổ biến kinh nghiệm của các điển hình tiên tiến và tuyên truyền rộng rãi để nhân rộng điển hình tiên tiến.
7. Tranh thủ sự lãnh đạo và phối hợp chặt chẽ với Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương và các cơ quan có liên quan, nhất là các cấp ủy Đảng, chính quyền, Hội đồng thi đua, khen thưởng ở các địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thi đua khen thưởng của ngành Kiểm sát nhân dân…
 
Bước sang năm 2015, năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015, là năm diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước và của Ngành như: Kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; 40 năm giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước; 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; cũng là năm tổ chức Đại hội Đảng và Đại hội thi đua yêu nước các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX, kỷ niệm 55 năm thành lập ngành KSND. Hy vọng rằng với những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Ngành trong tình hình mới, toàn ngành KSND sẽ đạt được nhiều thành tích hơn nữa, xứng đáng với sự tin cậy mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho ./.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CÔNG TÁC PHỐI HỢP ĐÀO TẠO VÀ TỰ ĐÀO TẠO NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ, NĂNG LỰC NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
KIỂM SÁT VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ
TRONG TÌNH HÌNH MỚI
 
                                                                                        VKSND tỉnh Vĩnh Phúc
 
Trong nhiều năm trước đây, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc luôn chú trọng công tác hướng dẫn, đào tạo, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng công tác chuyên môn nghiệp vụ. Do vậy, chất lượng công tác nghiệp vụ, thực hiện các chỉ tiêu năm sau đều cao hơn năm trước, không có án oan, sai, hồ sơ trả lại giữa các cơ quan tố tụng giảm, nhiều năm nay tỉ lệ 0,21% (chỉ tiêu của Ngành là không quá 6%). Từ năm 2000 đến nay, ngoài sự đào tạo theo Kế hoạch của Viện KSNDTC, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức nhiều cuộc thi nâng cao chất lượng cán bộ, Kiểm sát viên, như: Năm 2007 tổ chức tuyển chọn Kiểm sát viên giỏi (Qua kiểm tra hồ sơ, dự phiên tòa), năm 2009 tổ chức thi nâng cao chất lượng cán bộ, Kiểm sát viên (qua soạn thảo hơn 300 câu hỏi ở tất cả các lĩnh vực công tác nghiệp vụ), năm 2012 tổ chức thi nâng cao chất lượng cán bộ, Kiểm sát viên, năm 2013 tổ chức thi viết Cáo trạng, Luận tội…
Năm 2014 là năm có nhiều sự kiện quan trọng tác động đến hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân. Đó là Hiến pháp (sửa đổi năm 2013) có hiệu lực thi hành, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội thông qua. Đối với hoạt động nghiệp vụ của ngành, năm 2014 là năm đầu tiên thực hiện Chỉ thị chuyên đề của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra.
Thực hiện Chỉ thị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã lựa chọn công tác đào tạo nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên là nhiệm vụ trọng tâm năm 2014, với giải pháp đột phá là phối hợp đào tạo và tự đào tạo tại chỗ.
Thứ nhất, về phối hợp đào tạo:
Ngay từ đầu năm, Ban cán sự Đảng, lãnh đạo VKSND tỉnh đã chủ động liên hệ, phối hợp với Trường Đại học kiểm sát Hà Nội bàn và thống nhất:
- Lựa chọn hình thức tổ chức đào tạo tại chỗ.
- Đối tượng đào tạo là tất cả cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác nghiệp vụ ở VKSND hai cấp.
- Về nội dung đào tạo: Tập trung vào lĩnh vực trọng tâm của Ngành, chúng tôi lựa chọn nhiều nội dung; song do phạm vi các chương trình đã được phê duyệt còn ít nên mới chỉ dừng lại ở 2 nội dung chuyên sâu về thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giải quyết các vụ án về tội Giết người và tội Cố ý gây thương tích.
Với nội dung đào tạo từ lý thuyết chung về tội phạm, về định tội danh, đến kỹ năng chuyên ngành.
- Thời gian đào tạo: Theo khung chương trình mà VKSND tối cao phê duyệt, bố trí học vào các ngày nghỉ cuối tuần, để hạn chế thấp nhất việc ảnh hưởng đến hoạt động nghiệp vụ hàng ngày của các đơn vị.
Thời gian học 5 ngày cho 120 đồng chí, kết thúc khóa đào tạo, 120 cán bộ, KSV tham gia đã được cấp chứng chỉ của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.
Thứ hai, về tự đào tạo: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã đề ra và thực hiện các giải pháp tự đào tạo là: Tổ chức tọa đàm nghiệp vụ, tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm tập trung và tăng cường việc tổ chức tham dự các phiên tòa và xét xử lưu động. Kết quả thực hiện trong từng giải pháp như sau:
Một là, Về Tọa đàm nghiệp vụ:
Kế hoạch của Viện KSND tỉnh đặt ra, giao chỉ tiêu cho các phòng nghiệp vụ về hình sự, dân sự thuộc Viện KSND tỉnh phải tổ chức ít nhất 1 buổi tọa đàm nghiệp vụ về những vấn đề khó khăn, vướng mắc hoặc còn có ý kiến khác nhau trong thực tiễn.
- Về phương pháp: Các vụ án, nội dung Tọa đàm được các phòng nghiệp vụ chuẩn bị trước, gửi đến các đơn vị, cá nhân có liên quan thuộc thành phần tọa đàm, các cá nhân tham gia đều phải nghiên cứu, chuẩn bị nội dung, phát biểu; giao đồng chí Lãnh đạo VKSND tỉnh phụ trách Khối chủ trì tọa đàm.
- Trong năm 2014 đã tổ chức 6 buổi tọa đàm:
+ 5 buổi tọa đàm về 6 vụ án hình sự còn có vướng mắc, có quan điểm khác nhau (trong đó có 2 vụ án về tham nhũng, chức vụ, 2 vụ án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vụ án về Tội Cố ý gây thương tích và Giết người, vụ án về tội Hiếp dâm trẻ em và Giao cấu với trẻ em). Thành phần tham dự trong mỗi buổi tọa đàm từ 20 đến 60 đồng chí gồm có: Lãnh đạo VKSND tỉnh, cán bộ, KSV các phòng nghiệp vụ hình sự, 1 số VKS cấp huyện và các Điều tra viên của Cơ quan điều tra.
+ Tổ chức 1 ngày tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm kiểm sát qua 45 bản án dân sự sơ thẩm Viện kiểm sát đã kháng nghị được Tòa án chấp nhận, với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo Vụ 5, Vụ 12 VKSND tối cao và 120 cán bộ, KSV của VKSND hai cấp.
Việc tổ chức các buổi tọa đàm đã tạo điều kiện để tất cả các đồng chí tham gia đều phải nghiên cứu, chuẩn bị về nội dung chủ đề tọa đàm (lý thuyết về lĩnh vực chuẩn bị tọa đảm, chuẩn bị ý kiến) diễn đạt trình bày quan điểm trước đám đông. Tạo điều kiện cho cán bộ, KSV tự học, rèn luyện cả kiến thức lý luận và kỹ năng thực tiễn; lãnh đạo các đơn vị cũng có thêm cơ sở và lý lẽ để quyết định đường lối giải quyết các vụ án một cách đúng đắn hơn. Trong báo cáo tổng kết cuối năm thì các VKS cấp huyện đều đề nghị tiếp tục thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm.
Hai là, về tổ chức rút kinh nghiệm tập trung:
Đây là giải pháp về chỉ đạo điều hành nhưng cũng rất hiệu quả trong việc đào tạo.
Trong năm 2014, các đơn vị để xảy ra tồn tại, thiếu sót về nghiệp vụ liên quan đến chỉ tiêu (án trả hồ sơ, không phát hiện được vi phạm dẫn đến án bị hủy, sửa, nhất là trong kiểm sát bản án, quyết định dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện) thì lãnh đạo VKSND tỉnh phụ trách khối chỉ đạo phòng nghiệp vụ yêu cầu lãnh đạo, KSV của đơn vị có tồn tại, thiếu sót lên VKSND tỉnh giải trình, thảo luận làm rõ nguyên nhân, đề ra biện pháp khắc phục cụ thể.
Trong năm, đã tổ chức 03 buổi rút kinh nghiệm tập trung đối với 4 Viện kiểm sát cấp huyện để xảy ra tồn tại, thiếu sót trong kiểm sát bản án dân sự và 1 phòng nghiệp vụ để xảy ra tồn tại, thiếu sót trong thực hành quyền công tố và KSĐT án hình sự.
Như vậy, trước mỗi buổi tọa đàm thì cán bộ, KSV và lãnh đạo các đơn vị đều phải nghiên cứu lại cả về lý thuyết, các Quy chế nghiệp vụ và kiểm điểm lại quy trình tác nghiệp của cá nhân trong công tác để báo cáo, giải trình và đề ra biện pháp khắc phục. Kết quả kiểm điểm được thông báo đến tất cả các đơn vị để rút kinh nghiệm.
Tuy nhiên, ở đây có thể đặt ra câu hỏi là làm thế nào để xác định các đơn vị có tồn tại, thiếu sót đến mức phải tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm.
Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc họp HĐTĐ-KT mỗi tháng một lần để đánh giá kết quả thực hiện phong trào thi đua thông qua kết quả công tác, xếp loại đối với từng tập thể trực thuộc. Đây cũng là cơ sở đánh giá, xác định đơn vị nào cần phải kiểm điểm, rút kinh nghiệm chính xác, khách quan.
Ba là, tăng cường tổ chức tham dự các phiên tòa và phối hợp xét xử lưu động để rút kinh nghiệm.
Việc tổ chức tham dự các phiên tòa hình sự là chỉ tiêu chung của Ngành. Viện kiểm sát nhân dân giao chỉ tiêu cao hơn cho các phòng và VKS cấp huyện (chỉ tiêu của ngành ít nhất 1 vụ/ Kiểm sát viên, Vĩnh Phúc giao mức chỉ tiêu ít nhất 2 phiên tòa/Kiểm sát viên/năm); chúng tôi giao cả chỉ tiêu tham dự các phiên tòa dân sự, hôn nhân và gia đình, hành cính, kinh doang thương mại, lao động ít nhất 1 phiên tòa/ KSV/ năm.
Trong năm 2014 đã tổ chức dự 135 phiên tòa hình sự trên 51 Kiểm sát viên; dự 48 phiên tòa dân sự, hôn nhân gia đình và 5 phiên Tòa xét xử các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại của 31 Kiểm sát viên lĩnh vực này. Phối hợp Tòa án xét xử lưu động 262 vụ án (chiếm 29,4%) tổng số vụ án đã xét xử.
Việc tổ chức tham dự các phiên tòa và xét xử lưu động là giải pháp hữu hiệu để Kiểm sát viên tự nâng cao trách nhiệm, trình độ để chuẩn bị, tham gia xét xử cho tốt; đồng thời tạo để các đồng chí khác trong đơn vị cũng học hỏi, trau dồi kiến thức và kỹ năng kiểm sát chuyên ngành.
Trong năm 2014, ngoài công tác đào tạo và tự đào tạo, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức thi chọn nguồn bổ nhiệm Kiểm sát viên sơ cấp (thi đối với 17 cán bộ có thời gian công tác đủ và gần 4 năm, chọn được 8 đồng chí có số điểm đạt yêu cầu đưa vào diện xem xét bổ nhiệm).
Công tác đào tạo và tự đào tạo của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tạo ra môi trường học tập để nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên; góp phần trực tiếp vào việc nâng cao trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả công tác của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp. Tổng kết năm 2014, VKSND hai cấp của tỉnh đã hoàn thành hầu kết các chỉ tiêu nghiệp vụ mà Quốc hội giao cho Ngành và VKSND tối cao đề ra, trong đó có 31 chỉ tiêu vượt. Một số kết quả công tác nổi bật là:
Công tác thực hành quyền công tố trong lĩnh vực hình sự đảm bảo Kiểm sát viên tham gia ngay từ khi khởi tố vụ án, việc phê chuẩn, không phê chuẩn, yêu cầu, hủy bỏ các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra đều đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật; tỉ lệ bắt giữ xử lý hình sự đạt 100%; VKS đã truy tố 914/929 vụ (đạt tỉ lệ 98,4%, vượt chỉ tiêu 3,4%), việc truy tố đảm bảo đúng người, đúng tội; không có án Tòa tuyên không phạm tội, không có trường hợp nào oan hoặc bỏ lọt tội phạm; số vụ án trả hồ sơ do có thiếu sót chiếm tỉ lệ 0,21% (2 vụ). Viện kiểm sát đã phối hợp liên ngành lựa chọn 107 vụ án trọng điểm (chiếm tỉ lệ 8,63% tổng số vụ án điều tra), đưa ra xét xử lưu động 262 vụ án (chiếm 29,4% tổng số vụ án đã xét xử) để tuyên truyền pháp luật.
 Trong công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp, đã mở 247 điểm kiểm sát trực tiếp, trong đó kiểm sát đối với 100% UBND các xã, phường, thị trấn về việc quản lý, giáo dục người thi hành án treo, cải tạo không giam giữ; kiểm sát chặt chẽ các văn bản, bản án, quyết định, phát hiện được nhiều vi phạm của các cơ quant ư pháp. Đã ban hành 11 kháng nghị phúc thẩm hình sự, 59 kháng nghị phúc thẩm về dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính và kinh doanh thương mại, tỉ lệ kháng nghị phúc thẩm được chấp nhận trong cả 2 lĩnh vực đạt 76,3%, trong đó lĩnh vực dân sự đạt 88,1%; ban hành 238 kháng nghị, kiến nghị vi phạm của các cơ quan tư pháp. Các kiến nghị, kháng nghị đã ban hành đều được tiếp thu.
Bên cạnh đó, Viện kiểm sát hai cấp đã quan tâm đến nguyên nhân, điều kiện phát sinh vi phạm, tội phạm; đã tổng hợp ban hành 26 kiến nghị phòng ngừa tội phạm và 1 kiến nghị phòng ngừa vi phạm trong hoạt động của các Văn phòng công chứng đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (qua kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự).
Kết quả công tác của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã góp phần kiềm chế tội phạm, hạn chế vi phạm trong các hoạt động tư pháp tại địa phương.
Năm 2015 là năm sẽ diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của Đảng, Nhà nước và Ngành, cùng với kỷ niệm 55 năm ngày thành lập thì Ngành sẽ có sự chuyển đổi lớn về tổ chức bộ máy theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Để tiếp tục thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành, chúng ta cần tiếp tục quan tâm làm tốt hơn nữa công tác đào tạo nâng cao trình độ năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên. Trong đó, VKSND tỉnh Vĩnh Phúc thấy cần quan tâm một số vấn đề như sau:
1. Trường Đại học kiểm sát Hà Nội cần xây dựng, hoàn thiện để Viện kiểm sát nhân dân tối cao duyệt thông qua đầy đủ các chương trình, giáo trình đào tạo chuyên sâu trên tất cả các lĩnh vực công tác nghiệp vụ; đặc biệt là kiến thức và kỹ năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa.
2. Nghiên cứu bổ sung thêm kinh phí đào tạo hàng năm cho các Viện kiểm sát địa phương để có thể chủ động hơn trong việc lựa chọn các chương trình, nội dung đào tạo phù hợp, thiết thực với nhiệm vụ trọng tâm mà mỗi đơn vị lựa chọn.
3. Bổ sung biên chế theo nhu cầu giải quyết khối lượng công việc thực tế. Vì số biên chế của đơn vị được lấy theo mốc những năm trước đây, khi đó Vĩnh Phúc vẫn còn đang là một tỉnh nông nghiệp, có số lượng án hình sự và các tranh chấp ít; hiện nay Vĩnh Phúc là tỉnh có công nghiệp phát triển cao, có 2 thành phố (TP Vĩnh Yên là đô thị loại 2 và thành phố Phúc Yên là đô thị loại 3), số lượng án hình sự và các tranh chấp tăng lên đáng kể nên cần được điều chỉnh cho phù hợp.
4. Bố trí kinh phí xây dựng trụ sở của 1 Viện kiểm sát cấp huyện được tách ra từ 2009 (hiện nay vẫn đi thuê Nhà văn hóa thôn; bà con đã có nhu cầu, nhiều lần có văn bản đòi lại). Đề nghị nghiên cứu bổ sung kinh phí sửa chữa các trụ sở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phù hợp với nhu cầu thực tiễn để đảm bảo chất lượng, hiệu quả sử dụng.
 Đẩy mạnh tiến độ thực hiện đề án mua sắm tài sản và xe ôtô chuyên dùng để nâng cao điều kiện làm việc cho cán bộ, KSV ở cấp cơ sở.
5. Về công tác tự đào tạo của đơn vị:
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục thực hiện có chất lượng, hiệu quả hơn các hình thức tự đào tạo hiện có bằng việc xây dựng Hướng dẫn trình tự, thủ tục và đề ra yêu cầu một cách bài bản hơn, chặt chẽ hơn đối với việc tổ chức tham dự các phiên tòa và tổ chức các buổi tọa đàm nghiệp vụ.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MỘT SỐ KINH NGHIỆM SAU 3 NĂM THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, KIỂM SÁT VIÊN “VỮNG VỀ
CHÍNH TRỊ, GIỎI VỀ NGHIỆP VỤ, TINH THÔNG VỀ PHÁP LUẬT, CÔNG TÂM VÀ BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM”,
GẮN VỚI VIỆC HỌC TẬPVÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG
ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
 
VKSND tỉnh An Giang
 
Sau 3 năm triển khai và thực hiện Kế hoạch số 179/KH-VKSTC-V9 ngày 08/3/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc thực hiện cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”, gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đối với toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát tỉnh An Giang, đến nay đã đạt được những kết quả bước đầu và rút ra những bài học kinh nghiệm về tổ chức thực hiện cuộc vận động của toàn ngành Kiểm sát nhân dân, như sau:
1. Về tình hình tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch cuộc vận động
Thực hiện Kế hoạch số 179/KH-VKSTC-V9 ngày 08/3/2012; số 180/KH-VKSTC-V9 ngày 09/3/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã có văn bản số 639/VKS-P9 ngày 06/4/2012, về việc thực hiện cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” và Kế hoạch số 698/KH-VKS-P9 ngày 16/4/2012, về triển khai thực hiện Quy định tuyển chọn Kiểm sát giỏi, Điều tra viên giỏi, Kiểm sát viên tiêu biểu, Điều tra viên tiêu biểu, để tổ chức triển khai đến toàn thể lãnh đạo, cán bộ, Kiểm sát viên hai cấp Kiểm sát, để quán triệt nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của cuộc vận động, giúp cho cán bộ, Kiểm sát viên nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm trách nhiệm nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ và đề cao kỷ cương, kỷ luật trong công tác, xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị và của Ngành đã đề ra.
Song hành với thực hiện cuộc vận động, tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Ban Cán sự đảng còn triển khai Kế hoạch số 34-KH/BCS-VKS ngày 10/02/2012, về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đến năm 2015.
2. Kết quả thực hiện Kế hoạch cuộc vận động
Xác định, đây là cuộc vận động lớn của Ngành, nhằm  giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên về phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; việc học tập theo tấm gương, đạo đức của Bác và ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được phân công và có giá trị thiết thực góp phần thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), nên Ban Cán sự đảng và Lãnh đạo viện xây dựng kế hoạch và tập trung lãnh đạo thức hiện với các bước đi, tiến trình cụ thể như:
Để xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên“Vững về chính trị” lãnh đạo Viện xác định đây là nhiệm vụ quan trọng mở đầu cho việc thực hiện cuộc vận động, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chính trị của từng cán bộ, Kiểm sát viên để vững vàng trên vị trí đấu tranh phòng, chống tội phạm; bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, nên phải thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục trong đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên về tư tưởng chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phát huy tính dân chủ, tạo sự đoàn kết thống nhất; từng cá nhân có nhận thức đúng đắn về vai trò trách nhiệm của mình, chấp hành tốt nội quy, quy chế nghiệp vụ của Ngành, có tinh thần tự giác học tập nâng cao trình độ về mọi mặt. Bên cạnh đó, có 100% cán bộ, Kiểm sát viên cam kết đăng ký thực hiện cuộc vận động và việc rèn luyện 5 đức tính của người cán bộ Kiểm sát đã được xây dựng thành chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát An Giang “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”. Ngoài ra, tăng cường việc cử cán bộ tham gia nghiên cứu, quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, học tập lý luận chính trị, đến nay 100% Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp và cán bộ lãnh đạo đều đạt chuẩn hóa về lý luận chính trị theo quy định của Đảng, của Ngành.
Xác định việc xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật” là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình thực hiện cuộc vận động, lãnh đạo Viện chú trọng tập trung cho công tác đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ và kiến thức pháp luật thông qua tổ chức cuộc thi Kiểm sát viên giỏi, Kiểm sát viên tiêu biểu; Cuộc thi viết Luận tội, Bài phát biểu tại phiên tòa hình sự, dân sự, hành chính. Qua hai cuộc thi đã có trên  71 Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp của ngành Kiểm sát An Giang đăng ký dự thi, kết quả có 02 Kiểm sát viên tiêu biểu,  Kiểm sát viên giỏi và nhiều đồng chí có bài Luận tội, phát biểu tại phiên tòa dân sự, hành chính hay và đạt chất lượng cao.
Đặc biệt, ngành Kiểm sát An Giang đã thực hiện khâu đột phá “Tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm” và thành lập Tổ công tác theo dõi phiên tòa. Liên tiếp trong ba năm (2012 – 2014) đã phối hợp cùng Tòa án hai cấp tỉnh, huyện tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm từ việc chỉ tổ chức các“phiên tòa hình sự sơ thẩm, phúc thẩm rút kinh nghiệm”,  đến năm 2013 việc tổ chức các phiên toà rút kinh nghiệm không chỉ “trong lĩnh vực hình sự mà mở rộng trên tất cả các lĩnh vực dân sự và hành chính”. Năm 2014, để nâng cao hơn nữa công tác rèn luyện kỹ năng lập luận, đối đáp của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa, đơn vị xác định là khâu đột phá là “Nâng cao chất lượng Luận tội, Phát biểu của Kiểm sát viên và ứng dụng công nghệ thông tin đối với các phiên tòa hình sự, dân sự, hành chính rút kinh nghiệm”. Từng năm, Tổ công tác của phiên tòa rút kinh nghiệm đã tham mưu cho lãnh đạo Viện tổ chức Hội nghị rút kinh nghiệm nhằm đánh giá ưu, khuyết điểm của từng Kiểm sát viên. Qua đó, góp phần nâng cao trình độ, kỹ năng xét hỏi, tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Để nâng cao hơn nữa công tác rèn luyện cán bộ, Kiểm sát viên “giỏi về nghiệp vụ” lãnh đạo Viện đã chủ động quan hệ, phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh để lắp đặt hệ thống camera ghi hình tại các phòng xét xử của Tòa án tỉnh và 11 huyện, thị, thành phố. Từ khi có hệ thống camera ghi hình các phiên tòa không những giúp lãnh đạo Viện hai cấp và Tổ công tác Viện tỉnh kiểm tra, hướng dẫn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính của Kiểm sát viên tại phiên tòa  và kịp thời chấn chỉnh, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng, kỹ năng xét hỏi, phong cách ứng xử của Kiểm sát viên tại phiên tòa, mà còn tạo điều kiện để các Viện Kiểm sát cấp huyện và phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát tỉnh cùng nhau trao đổi kinh nghiệm. Bên cạnh đó, một số Viện kiểm sát cấp huyện phối hợp thành cụm, khi có phiên tòa rút kinh nghiệm, thì thông báo cho Viện kiểm sát trong cụm biết để mở hệ thống camera cho toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị dự khán. Sau đó, các đơn vị trong cụm sẽ phối hợp với Tổ công tác Viện kiểm sát tỉnh và lãnh đạo Tòa án tổ chức cuộc họp để cùng rút kinh nghiệm. Mô hình này đang phát huy tốt hiệu quả, vừa trực tiếp sinh động, vừa tiết kiệm thời gian, kinh phí và Kiểm sát viên cũng nhận được sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Viện ngay trong quá trình xét xử vụ án. Đây cũng là động lực để cán bộ, Kiểm sát viên học tập kinh nghiệm, rèn luyện học tập kiến thức nghiệp vụ để ngày càng thành thạo hơn các thao tác, quy trình chuyên môn, nghiệp vụ kiểm sát nhằm vận dụng tốt vào hoạt động thực tiễn.
Ngoài ra, để nâng cao năng lực nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, lãnh đạo Viện luôn chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong ba năm, đã cử 6 công chức dự thi Cao học Luật (03 trúng tuyển); 26 công chức tham gia đào tạo nghiệp vụ kiểm sát; 112 lượt công chức dự lớp tập huấn về hình sự, dân sự - hành chính, thi hành án, thống kê án hình sự và văn thư- lưu trữ; 18 cán bộ học lớp quản lý chỉ đạo, điều hành, Chuyên viên chính và 04 công chức tham dự học Anh văn và Khmer (theo đề án 165)  để nâng cao trình độ, nhận thức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, để liên tục cập nhật và tin học hóa văn bản pháp luật, lãnh đạo VKSND tỉnh còn chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu sách điện tử (Ebook) về hệ thống các văn bản pháp luật hình sự, dân sự, hành chính; hướng dẫn nghiệp vụ … để cài đặt vào máy tính bàn, laptop phục vụ cho Kiểm sát viên nghiên cứu giải quyết án hình sự, hoặc các vụ, việc dân sự, hành chính, thi hành án… và tra cứu nhanh phục vụ cho việc đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Công tâm và bản lĩnh, Kỷ cương và trách nhiệm”, là nhiệm vụ sẽ làm hoàn thiện thực hiện cuộc vận động. Qua đó, từng bước xây dựng hình ảnh người cán bộ, Kiểm sát viên có bản lĩnh và quyết tâm cao trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Do vậy, quán triệt mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của Ngành từng cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát An Giang luôn thực hiện nhiệm vụ, giải quyết công việc thể hiện khách quan, công bằng, đúng pháp luật. Có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp; không thiên lệch, định kiến, áp đặt chủ quan; không bị tác động, chi phối hợp bởi các yếu tố bên ngoài. Khi đề xuất giải quyết một vụ việc, nhất là xem xét, đánh giá chứng cứ hoặc đường lối giải quyết một vụ án luôn thật sự khách quan, đầy đủ, toàn diện. Chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương và quy chế, quy định của ngành Kiểm sát nhân, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực hiện đúng với thẩm quyền được giao. Luôn có ý thức xây dựng đoàn kết nội bộ; có tinh thần giúp đỡ, phối hợp với đồng nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ; Luôn lắng nghe ý kiến của cấp trên, đồng nghiệp, nhân dân; tôn trọng và thực hiện tốt quy chế dân chủ; trung thực, thẳng thắn, minh bạch trong giải quyết công việc.
Cùng với việc thực hiện Cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị. Đơn vị đã xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng năm gắn với chủ đề xuyên suốt từ năm 2012 - 2015 là “Suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị”,  gắn với việc rèn luyện 5 đức tính của người cán bộ Kiểm sát đã được xây dựng thành chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát An Giang. Hàng Quý, các đoàn thể cơ quan Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện tổ chức Hội thi hái hoa dân chủ với các chủ đề về học tập, làm theo các chuyên đề về chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, Kiểm sát viên  ngành Kiểm sát An Giang theo 5 đức tính Bác Hồ dạy; Quy tắc ứng của cán bộ ngành và chuyên đề xây dựng nền hành chính “Chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả”… với hơn hàng trăm lượt cán bộ, công chức, của Viện kiểm sát hai cấp trong tỉnh tham gia. Đây là một phong trào có tầm quan trọng sâu rộng trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng và tập hợp được sức mạnh gắn kết cán bộ, công chức trong ngành Kiểm sát An Giang với ý thức tự giác thi đua học tập, quán triệt sâu sắc các chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên và Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức ngành Kiểm sát nhân dân…
Bên cạnh đó, Ban Cán sự đảng thường xuyên phối hợp với Đảng ủy cơ quan kiểm tra việc thực hiện các giải pháp sửa chữa, khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm đã chỉ ra qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương (Khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” nhằm xây dựng tổ chức, cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, đẩy mạnh việc nhắc nhở cán bộ, đảng viên thực hiện tốt các Quy chế nghiệp vụ của ngành; Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Kiểm sát và Nội quy của cơ quan về trang phục, giờ giấc làm việc, thực hiện hành vi ứng xử văn hóa trong quan hệ công tác, quan hệ với đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan và quan hệ với nhân dân...  Vì vậy, trong nhiều năm qua không có cán bộ, Kiểm sát viên nào của ngành Kiểm sát An Giang vi phạm phải bị xử lý kỷ luật.
Sau 3 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh; kỷ cương và trách nhiệm” gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đã tạo nên bước chuyển biến rõ nét cả về ý thức và nhận thức của cán bộ Ngành. Từng cán bộ, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát An Giang luôn tự giác giữ vững lập trường, tư tưởng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống trung thực, lành mạnh, khiêm tốn; gương mẫu chấp hành các quy tắc, chuẩn mực đạo đức, nội quy, quy chế của Ngành; thực hiện tốt tinh thần đoàn kết nội bộ, có ý thức tôn trọng và phục vụ nhân dân, tận tình hướng dẫn, giải quyết khiếu nại, vướng mắc của nhân dân khi đến liên hệ tại đơn vị, không gây phiền hà, sách nhiễu người dân; không có biểu hiện tiêu cực hoặc vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Trong công tác chuyên môn, cán bộ đảng viên trong đơn vị luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực, chủ động nghiên cứu, học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao với chất lượng tốt nhất, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án... đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không để xảy ra tình trạng oan, sai và hạn chế mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm. 
3. Một số kinh nghiệm rút ra từ việc tổ chức thực hiện cuộc vận động
Một là,để cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh; kỷ cương và trách nhiệm” được triển khai sâu rộng, là công việc thường xuyên và liên tục, hiệu quả và thiết thực, nên gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”và xây dựng thành tiêu chí thi đua cùng với Chỉ thị công tác hàng năm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Hai là,tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”; “Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa”  và thực hiện tốt công tác kiểm sát hoạt động tư pháp.
Ba là,nghiên cứu thực hiện tốt các khâu công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
Bốn là,tiến hành sơ kết để đánh giá kết quả thực hiện, những ưu điểm, thiếu sót cần rút kinh nghiệm và những việc làm tốt, kinh nghiệm hay nhân rộng điển hình và bổ sung hoàn thiện để đưa cuộc vận động thực sự đi vào chiều sâu, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên thật sự vững mạnh, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Năm là,tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao kỹ năng nghiệp vụ phát hiện, xử lý một số tội phạm công nghệ cao; thường xuyên thông tin về phương thức thủ đoạn mới của tội phạm có tổ chức, tội phạm hình sự nguy hiểm và tội phạm mới phát sinh, tội phạm có tính quốc tế và đẩy mạnh việc đào tạo các chuyên gia đầu Ngành về các lĩnh vực tội phạm.
Sáu là,từng cán bộ, Kiểm sát viên nêu cao ý thức tự giác, chủ động trong học tập nâng cao trình độ ngiệp vụ chuyên môn; trao dồi, rèn luyện kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Đồng thời, xác định việc thực hiện cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên theo yêu cầu cải cách tư pháp là nhiệm vụ thường xuyên của người cán bộ Kiểm sát./.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TĂNG CƯỜNG KỶ CƯƠNG, KỶ LUẬT NGHIỆP VỤ
VÀ CHẤP HÀNH TRẬT TỰ NỘI VỤ, PHỤC VỤ TỐT CÔNG TÁC QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH VÀ THỰC HIỆN
CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ
 
Thanh tra, VKSND tối cao
 
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra của ngành Kiểm sát nhân dân nhằmphục vụ tốt công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Một trong các nội dung quan trọng của công tác quản lý, chỉ đạo điều hành trong Ngành là tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động nghiệp vụ và chấp hành trật tự nội vụ của công chức, viên chức và người lao động trong Ngành.
Thực hiện chỉ đạo của Viện trưởng VKSND tối cao tại Chỉ thị số 01 ngày 02/01/2014 về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2014 đối với công tác thanh tra:“Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ, công vụ và nội vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kịp thời xử lý nghiêm minh các cá nhân vi phạm, tiêu cực, nhất là những trường hợp để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm hoặc cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất” và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06 ngày 20/12/2013 của Ban cán sự đảng VKSND tối cao về củng cố, kiện toàn hệ thống Thanh tra Ngành, Thanh tra VKSND tối cao đã đăng ký khâu công tác đột phá năm 2014, tập trung:“Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác thanh tra, xây dựng và hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra trong Ngành”. Đồng thời, đã tham mưu cho Viện trưởng VKSND tối cao ban hành Chỉ thị số 05/CT-VKSTC-TTr ngày 31/3/2014 về tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân; hoàn thiện các thể chế quy định có liên quan đến tổ chức và hoạt động của thanh tra Ngành. Kết quả cụ thể:
1. Về tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ
 Thanh tra VKSND tối cao đã có nhiều biện pháp tích cực kiện toàn tổ chức, tăng cường và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức của đơn vị, như: tiếp nhận 09 công chức; thành lập Phòng Thanh tra hành chính; kiện toàn lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo cấp phòng. Tổ chức tập huấn, truyền đạt những kinh nghiệm và kỹ năng nghiệp vụ thanh tra cho toàn thể công chức trong đơn vị; phân công cán bộ có trình độ, năng lực và kinh nghiệm hướng dẫn nghiệp vụ công tác thanh tra đối với những công chức mới tiếp nhận về đơn vị.
Hướng dẫn VKSND cấp tỉnh thành lập tổ chức Thanh tra, bố trí cán bộ làm công tác thanh tra và thực hiện chức năng, nhiệm vụ thanh tra. Đến nay, đã thành lập tổ chức Thanh tra (tương đương cấp phòng) tại 08 VKSND tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Đắk Lắk, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh); 44 VKSND tỉnh, thành phố đã lập Tổ thanh tra có 02 cán bộ chuyên trách làm công tác thanh tra nằm trong Phòng Tổ chức cán bộ; 11 VKSND tỉnh bố trí 01 đến 02 cán bộ kiêm nhiệm làm công tác thanh tra. Phân công lãnh đạo đơn vị và các phòng phụ trách theo dõi, hướng dẫn nghiệp vụ; hàng tháng tổng hợp thông báo kết quả công tác thanh tra và hướng dẫn một số nhiệm vụ trọng tâm của tháng tiếp theo cho Thanh tra VKSND cấp tỉnh. Tổ chức Hội nghị tập huấn “Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra việc chấp hành pháp luật và quy chế của Ngành nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”; xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra vào chương trình bồi dưỡng chung của Trường Đại học Kiểm sát.
2. Về công tác xây dựng thể chế
Để tăng cường công tác quản lý và kỷ luật trong ngành Kiểm sát nhân dân, xác định rõ những vi phạm phải được xem xét kiểm điểm, xử lý và trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị trong việc tổ chức kiểm điểm, xử lý vi phạm thuộc thẩm quyền nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và hiệu quả công tác chuyên môn, kỷ cương, kỷ luật trong Ngành, Thanh tra VKSND tối cao đã nghiên cứu xây dựng 02 Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành Kiểm sát nhân dân và Thông tư quy định về xử lý vi phạm trong ngành Kiểm sát nhân dân, đã tổ chức lấy ý kiến góp ý trong toàn Ngành và tại Hội nghị tập huấnvề nghiệp vụ công tác thanh tra ở Quảng Ninh và Lâm Đồng. Đang tiếp tục tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến tham gia của các VKS địa phương để hoàn thiện.
Ký kết và ban hành 03 Quy định phối hợp công tác với Cục Điều tra, Vụ Tổ chức cán bộ và Vụ Thi đua -Khen thưởng; chuẩn bị ký kết, ban hành Quy định phối hợp với Vụ Khiếu tố trong việc tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong ngành KSND.
3. Về hoạt động nghiệp vụ thanh tra
Để góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 37 ngày 23/11/2012 và Nghị quyết số 63 ngày 27/11/2013 của Quốc hội, năm 2014, Thanh tra VKSND tối cao đã tập trung và hướng dẫn Thanh tra VKSND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ trọng tâm thanh tra việc chấp hành pháp luật và quy chế nghiệp vụ của Ngành trong việc đình chỉ theo Điều 25 Bộ luật hình sự; việc giải quyết các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và án tham nhũng, chức vụ.
Thanh tra VKSND tối cao đã tiến hành 09 cuộc thanh tra theo kế hoạch; 04 cuộc thanh tra đột xuất theo chỉ đạo của Viện trưởng VKSND tối cao; 47 cuộc kiểm tra đột xuất việc chấp hành kỷ luật nội vụ; giải quyết 88/91 đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Thanh tra VKSND cấp tỉnh đã tiến hành 10 cuộc thanh tra toàn diện; trên 300 cuộc thanh tra theo chuyên đề về hoạt động nghiệp vụ; 80 cuộc thanh tra công vụ; trên 1.000 cuộckiểm tra đột xuất việc chấp hành kỷ luật nội; giải quyết 79 đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền.
 Kết quả công tác thanh tra cho thấy, nhiều đơn vị trong Ngành đã tăng cường công tác quản lý, chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật nghiệp vụ, công vụ và nội vụ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của đội ngũ công chức, viên chức và người lao động, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác ở từng cơ quan, đơn vị và trong toàn Ngành, hoàn thành tốt các chỉ tiêu công tác và nhiệm vụ xây dựng Ngành, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; việc chấp hành kỷ luật nội vụ của công chức, viên chức và người lao động trong Ngành. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, một số VKSND địa phương, đơn vị trong Ngành cũng còn để xảy ra một số thiếu sót, vi phạm như:
- Trong hoạt động nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp còn vi phạm quy trình, kỷ luật nghiệp vụ; để xảy ra các trường hợp oan sai, phải đình chỉ bị can do không phạm tội, Toà án tuyên bị cáo không phạm tội; bị hủy án để điều tra, xét xử lại; đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự không đúng, có dấu hiệu để lọt tội phạm hoặc né tránh trách nhiệm v.v... Nhưng việc kiểm điểm làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm để xử lý và rút kinh nghiệm chưa được kịp thời, thiếu nghiêm túc.
- Trong công tác cán bộ, qua thanh tra phát hiện những thiếu sót, vi phạm quy định của Nhà nước và của Ngành trong việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng công chức, như: tuyển dụng, bổ nhiệm không đúng đối tượng, tiêu chuẩn; công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động thực hiện chưa đúng quy trình; việc xử lý công chức vi phạm kỷ luật chưa nghiêm túc hoặc không xử lý vi phạm xảy ra...
- Công tác quản lý nội bộ ở một số VKS địa phương, đơn vị trong Ngành chưa tốt, còn có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, vi phạm Quy chế dân chủ cơ sở dẫn đến tình trạng đơn thư tố cáo nặc danh, mạo danh xảy ra còn nhiều (Thanh tra VKSND tối cao tiếp nhận 23 đơn nặc danh/91 đơn, chiếm tỷ lệ 25 %), nội dung đơn phản ánh liên quan đến các lĩnh vực nghiệp vụ, công tác tổ chức cán bộ, phẩm chất đạo đức của cán công chức, viên chức; nhiều đơn thư khiếu kiện gửi vượt cấp hoặc đến các cơ quan Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương, một số vụ việc bị báo chí phản ánh... gây ảnh hưởng đến uy tín của đơn vị, của Ngành.
- Việc chấp hành kỷ luật nội vụ tại một số VKS địa phương, đơn vị trong Ngành còn chưa nghiêm túc, vi phạm các quy định trong việc tổ chức tiếp công dân, về giờ giấc làm việc, sử dụng trang phục Ngành, cấm hút thuốc lá tại công sở... nhưng chưa được chấn chỉnh kịp thời.
Trên cơ sở kết quả thanh tra, đã yêu cầu các đơn vị được thanh tra tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm nghiêm túc và có biện pháp khắc phục về những hạn chế, thiếu sót; yêu cầu tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm và xem xét xử lý nghiêm túc đối với lãnh đạo, KSV có vi phạm nghiêm trọng. Yêu cầu báo cáo và chuyển hồ sơ một số vụ án có dấu hiệu để lọt tội phạm, oan sai để các Vụ nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao xem xét, chỉ đạo việc huỷ bỏ 02 Quyết định không khởi tố, 03 vụ đình chỉ không có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm 03 vụ; yêu cầu kiểm tra, xem xét phục hồi 08 vụ án đình chỉ không đúng, có dấu hiệu để lọt tội phạm, đảm bảo việc xử lý các vụ án theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan hoặc để lọt tội phạm. Đồng thời, Thanh tra VKSND tối cao đã tổng hợp, báo cáo Viện trưởng VKSND tối cao chỉ đạo VKSND các tỉnh, thành phố chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước, của Ngành trong công tác cán bộ và trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Trên cơ sở kiến nghị của Thanh tra, đến nay các cấp đã tiến hành xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức 01 trường hợp (Đắk Lắk), cảnh cáo 02 trường hợp (Sóc Trăng 01, Kiên Giang 01), khiển trách 05 trường hợp (Sóc Trăng 03, Cần Thơ 01, Bình Phước 01); kiểm điểm rút kinh nghiệm 37 trường hợp (Ninh Thuận 01, Đồng Tháp 23, Sóc Trăng 12, Văn phòng VKSND tối cao 01), kiểm điểm phê bình và điều động công tác 02 trường hợp (Đắk Lắk).
4. Một số khó khăn, vướng mắc
- Đối với Thanh tra VKSND tối cao, do lãnh đạo quản lý cấp phòng chưa được kiện toàn đầy đủ; chưa tuyển đủ số biên chế được giao; trình độ, kinh nghiệm nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ trong đơn vị còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Do vậy, việc sắp xếp, phân công cán bộ trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ thanh tra gặp nhiều khó khăn.
- Đối với Thanh tra VKSND tỉnh, thành phố, do biên chế được giao còn hạn chế; thiếu Kiểm sát viên trung cấp nên gặp khó khăn trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ làm công tác thanh tra. Hơn nữa, là năm đầu triển khai thực hiện công tác thanh tra nên các VKSND tỉnh, thành phố còn nhiều lúng túng trong hoạt động nghiệp vụ thanh tra; một số đơn vị đến tháng 4, tháng 5 mới thành lập, bố trí cán bộ làm công tác thanh tra nên việc triển khai nhiệm vụ thanh tra không đúng chỉ đạo của Thanh tra VKSND tối cao, dẫn đến trong việc triển khai nhiệm vụ thanh tra của toàn Ngành còn thiếu toàn diện, đồng bộ. Lãnh đạo một số VKSND tỉnh, thành phố còn chưa thực sự quan tâm đến công tác thanh tra; chất lượng cán bộ làm công tác thanh tra còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm về công tác thanh tra.
Để khắc phục những khó khăn, thiếu sót, vi phạm nêu trên, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động nghiệp vụ và chấp hành trật tự nội vụ, phục vụ tốt công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và thực hiện chức năng, nhiệm vụ, trong thời gian tới cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
1. Về công tác tổ chức cán bộ:
- Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ thanh tra ngành Kiểm sát nhân dân, cụ thể là:
- Tiếp tục tuyển đủ số biên chế được giao và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, kiện toàn lãnh đạo cấp phòng củaThanh tra VKSND tối cao.
- Trên cơ sở đề nghị và thông qua hiệu quả công tác thanh tra trong năm 2014 của các VKS địa phương, đề nghị Ban cán sự đảng, lãnh đạo VKSND tối cao có lộ trình thích hợp để từng bước cho thành lập Thanh tra là đơn vị tương đương cấp phòng ở tất cả các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trước mắt, tăng thêm biên chế để đảm bảo bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác thanh tra ở tất cả VKSND cấp tỉnh. Đề nghị lãnh đạo VKSND các tỉnh, thành phố thực hiện đúng chỉ đạo của VKSND tối cao về việc bố trí cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực chuyên trách làm công tác thanh tra.
2. Về công tác xây dựng thể chế:
- Thanh tra VKSND tối cao tiếp tục lấy ý kiến đóng góp rộng rãi trong toàn Ngành để tiếp thu, hoàn thiện, trình Viện trưởng VKSND tối cao ban hành các văn bản nhằm hoàn thiện về thể chế, cụ thể:
- Hoàn thiện 02 Thông tư có liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra để trình Viện trưởng VKSND tối cao ký ban hành ngay sau khi triển khai thực hiện Luật tổ chức VKSND 2014 (Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành Kiểm sát nhân dân và Thông tư quy định về xử lý vi phạm trong ngành Kiểm sát nhân dân).
- Hoàn thiện và ban hành Quy trình thanh tra hoạt động nghiệp vụ, Quy trình Thanh tra công vụ và Quy trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Thanh tra; Hệ thống biểu mẫu hoạt động thanh tra, đảm bảo việc áp dụng thống nhất trong toàn Ngành.
3. Nâng cao chất lượng, hiệu quả thanh tra việc chấp hành pháp luật và quy chế nghiệp vụ của Ngành trong việc đình chỉ theo Điều 25 Bộ luật hình sự; án đình chỉ do bị can không phạm tội, Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội; việc giải quyết các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và án tham nhũng, chức vụ nhằm phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh vi phạm để kiến nghị xử lý và áp dụng các biện pháp giáo dục, phòng ngừa. Tăng cường công tác thanh tra công vụ, thanh tra trách nhiệm; kiểm tra việc chấp hành kỷ luật nội vụ trong Ngành.
4. Nâng cao chất lượng và giải quyết kịp thời đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến công chức, viên chức trong Ngành; không để đơn thư gửi vượt cấp, khiếu kiện kéo dài. Tăng cường quản lý nội bộ, thực hiện tốt Quy chế dân chủ trong hoạt động của VKSND các cấp để không xảy ra đơn thư nặc danh, mạo danh gây ảnh hưởng xấu đến uy tín cá nhân, tập thể và của Ngành.
5. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 05 ngày 31/3/2014 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ trong Ngành.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH,
CƠ SỞ VẬT CHẤT, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG TIỆN LÀM VIỆC, BẢO ĐẢM THỰC HIỆN TỐT LUẬT TỔ CHỨC VKNSD NĂM 2014
                                                         
                                                     Vụ Kế hoạch - Tài chính, VKSND tối cao
 
I. KẾT QUẢ ĐẢM BẢO KINH PHÍ, CƠ SỞ VẬT CHẤT, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG TIỆN LÀM VIỆC NĂM 2014
Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 02/01/2014 của Viện trưởng Viện KSND tối cao về công tác ngành Kiểm sát nhân dân năm 2014, Vụ Kế hoạch Tài chính đã triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ công tác Kế hoạch – Tài chính, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị chung của toàn Ngành.
1. Về công tác lập, phân bổ, giao dự toán, điều hành và quyết toán ngân sách nhà nước
Tổng ngân sách nhà nước giao cho ngành Kiểm sát năm 2014  là 3.026tỷ đồng, so với năm 2013 tăng 2,76%. Việc phân bổ dự toán và giao dự toán kinh phí cho các đơn vị trong toàn Ngành bảo đảm nguyên tắc công khai, dân chủ, tiết kiệm, ưu tiên kinh phí cho thực hiện các nhiệm vụ đặc thù Ngành, kinh phí cho các đơn vị vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, núi cao, hải đảo; hỗ trợ kinh phí chi thường xuyên cho VKSND cấp huyện có xe chuyên dùng. Đối với phân bổ vốn đầu tư, đảm bảo theo thứ tự ưu tiên trả nợ cho các dự án hoàn thành đã quyết toán, các dự án hoàn thành chờ quyết toán, các dự án chuyển tiếp có khả năng hoàn thành năm 2014. Trong điều kiện ngân sách tăng không đáng kể, không được bổ sung ngân sách cho các nhiệm vụ phát sinh, Vụ Kế hoạch - Tài chính đã tham mưu cho lãnh đạo Viện thực hiện điều chỉnh ngân sách từ Văn phòng VKSNDTC để giải quyết những nhu cầu cấp bách về sửa chữa trụ sở; mua sắm trang thiết bị ban đầu cho các đơn vị mới thành lập, chia tách; hỗ trợ thêm kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; xây dựng hệ thống họp truyền hình trực tuyến đến VKS cấp huyện trong toàn quốc.
Công tác xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 của Ngành đã bảo đảm kinh phí cho hoạt động thường xuyên; dự toán cho các khoản tăng lương tự nhiên; kinh phí duy trì hoạt động cho xe chuyên dùng cấp huyện; kinh phí tuyển thêm HĐLĐ làm công tác bảo vệ VKS cấp tỉnh, cấp huyện, hợp đồng lao động làm tạp cụ cấp huyện; kinh phí điều tra tội phạm cho VKS các cấp, kinh phí triển khai thực hiện Luật tổ chức VKSND sửa đổi; kinh phí tổ chức các hoạt động Kỷ niệm 55 năm thành lập Ngành.
Công tác thảo luận dự toán năm 2015 đối với các đơn vị trong Ngành tiếp tục có nhiều đổi mới theo hướng thiết thực, tiết kiệm và hiệu quả. Công tác xét duyệt, thẩm định quyết toán của đã đổi mới cơ bản, các đơn vị trong toàn ngành đã chấp hành dự toán, điều chỉnh dự toán, chấp hành chế độ kế toán, theo dõi tài sản cố định theo quy định của pháp luật về NSNN và hướng dẫn của VKSNDTC, đảm bảo công khai, dân chủ, sử dụng ngân sách hiệu quả, tiết kiệm, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chuyên môn của Ngành, do đó tổng kinh phí tiết kiệm trong toàn Ngành năm 2013 là 192,5 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 10,1% so với tổng kinh phí tự chủ được giao trong năm).
2. Công tác quản lý đầu tư xây dựng
Tổng kinh phí đầu tư xây dựng năm 2014 được giao là 385,500 tỷ đồng, đã phân bổ cho 113 dự án (89 dự án đã hoàn thành thiếu vốn thanh toán; 15 dự án dự kiến hoàn thành năm 2014; 02 dự án chuyển tiếp; 02 dự án khởi công mới; 01 dự án chuẩn bị thực hiện; 04 dự án đầu tư theo ngành, lĩnh vực).                                 Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện đúng quy định, tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí, công tác giám sát đầu tư, kiểm tra đấu thầu, quyết toán dự án hoàn thành đã được tăng cường và giúp cho các đơn vị giải quyết cơ bản việc thanh quyết toán dự án tồn đọng, qua công tác quyết toán dự án hoàn thành đã giảm trừ 1.280 triệu đồng những khoản chi phí không đúng quy định.
Vụ Kế hoạch - Tài chính đã tham mưu cho lãnh đạo Viện hướng dẫn các chủ đầu tư thực hiện đầu tư dự án theo đúng quy định của pháp luật và thực hiện phân cấp ủy quyền trong công tác đầu tư xây dựng nhằm nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư, nâng cao chất lượng, tiến độ đầu tư hiệu quả hơn.
3. Về trang thiết bị và phương tiện làm việc
Tiếp tục thực hiện Đề án "Đầu tư trang thiết bị, phương tiện làm việc cho ngành KSND nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới thực hiện trong giai đoạn 2011-2015" với kinh phí được cấp là 117.800 triệu đồng, thực hiện mua sắm theo danh mục đề án gồm: 766 máy chiếu, 550 bộ máy vi tính để bàn, 727 máy vi tính xách tay, 906 tủ hồ sơ lưu trữ. Tính đến hết năm 2014, Đề án giai đoạn 3 đã thực hiện được 4 năm với tổng kinh phí là 578 tỷ đồng, đã bảo đảm đủ theo tiêu chuẩn định mức xe ô tô cho VKSND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (03 - 05 chiếc/đơn vị); xe ô tô chuyên dùng cho cấp huyện, đã  đảm bảo được 40% số các đơn vị; xe máy công đã đảm bảo 60 % đơn vị cấp huyện còn lại không được cấp xe ô tô chuyên dùng; máy photocopy thường, đã đảm bảo cho VKSND cấp tỉnh 02 chiếc; máy vi tính để bàn, đã đảm bảo cho công chức cấp huyện và các đơn vị trong Ngành có máy vi tính sử dụng tốt (đạt 80% trở lên); máy vi tính xách tay mỗi phòng nghiệp vụ VKSND tỉnh 1 chiếc, mỗi VKSND cấp huyện 1 chiếc; máy scan, trang bị cho VKS cấp tỉnh, cấp huyện mỗi đơn vị 1 chiếc; máy chiếu, trang bị VKS cấp tỉnh, cấp huyện mỗi đơn vị 01 chiếc; tủ hồ sơ lưu trữ quay tay và các trang thiết bị khác.
Về trang phục Ngành, đã triển khai thực hiện đấu thầu mua sắm trang phục cấp 1 lần, trang phục là lễ phục năm 2012-2014; trang phục thường dùng niên hạn 2014. Nghiên cứu, đề xuất, tổng hợp ý kiến của các đơn vị trong toàn Ngành về thực hiện phương thức cấp phát trang phục là giầy, dép, tất…
4. Công tác nghiên cứu, xây dựng các chế độ, chính sách tài chính
Vụ Kế hoạch - Tài chính chính đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành trình Chính phủ các chế độ phụ cấp thâm niên, chế độ chi đặc thù (chế độ bồi dưỡng đối với Kiểm sát viên làm nhiệm vụ phòng chống ma túy, kiểm sát trực tiếp trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, chế độ bồi dưỡng trực nghiệp vụ). Tuy nhiên, hiện nay do thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về cải cách tiền lương nên các chế độ mới tạm thời chưa đề nghị cấp thẩm quyền.
5.  Kết quả xây dựng các Đề án nhằm tăng cường nguồn kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc
Thực hiện Chương trình của Ban cán sự Đảng VKSNDTC và sự phân công của Lãnh đạo VKSNDTC, Vụ Kế hoạch - Tài chính tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và trình các Đề án nhằm tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động cho Ngành đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng trong năm 2014.
Đề án "Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho ngành KSND đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”đã trình Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (lần thứ 2) và hiện đang lấy ý kiến tham gia của Ủy ban Tài chính, Ngân sách Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính theo ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương.
Đề án"Đầu tư trang thiết bị, phương tiện làm việc cho ngành KSND nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn 2016-2020" đã được Bộ Tài chính thẩm định.
 Thực hiện khảo sát và xây dựng 02 Đề án: “Đổi mới tổ chức và hoạt động công tác Kế hoạch - Tài chính ngành KSND đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”; “Tăng cường nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành KSND đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” trình lãnh đạo VKSNDTC.
Hiện nay, Vụ đang tổng hợp số liệu báo cáo của các đơn vị trong toàn Ngành để xây dựng Kế hoạch đầu tư công trung hạn của Ngành, báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
 
II. ĐÁNH GIÁ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NGÀNH
1. Thuận lợi
Năm 2014, là năm thứ tư của thời kỳ ổn định ngân sách giai đoạn 2011-2015, tình hình kinh tế nước ta vẫn chưa thực sự khởi sắc, tình hình tội phạm vẫn tiếp tục gia tăng và diễn biến phức tạp, đồng thời là năm có nhiều nhiệm vụ mới phát sinh yêu cầu giải quyết nhanh, gấp, đòi hỏi tăng kinh phí để thực hiện. Kinh phí cấp cho Ngành tăng không đáng kể so với năm 2013, nhưng có sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Viện, sự tham mưu hiệu quả của Vụ Kế hoạch - Tài chính nên  nguồn kinh phí quản lý hành chính cơ bản đã đáp ứng được thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của toàn Ngành, hệ thống công nghệ thông tin đã được quan tâm đầu tư (năm 2014 có 50% số đơn vị VKSND cấp tỉnh được thay thế máy chủ), cơ sở vật chất và trang thiết bị, phương tiện làm việc cho cán bộ từng bước được cải thiện, các trang thiết bị như máy vi tính, máy chiếu, tủ hồ sơ lưu trữ tiếp tục được tăng cường cho các cấp kiểm sát phục vụ hoạt động của đơn vị.
2. Khó khăn
- Nguồn ngân sách nhà nước giao cho ngành Kiểm sát năm 2014 tăng rất ít so với năm 2013, có những nội dung kinh phí giảm (kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảm 5,6 tỷ đồng), trong khi nhu cầu chi thực hiện nhiệm vụ của Ngành ngày càng tăng, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng thực hiện cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế là rất lớn.
- Vốn đầu tư cấp cho các dự án năm 2014 tăng không nhiều, nhu cầu đầu tư xây dựng trụ sở tăng cao, có khoảng 200 đơn vị trụ sở xuống cấp cần phải đầu tư, 40 đơn vị đang thuê trụ sở làm việc. Đặc biệt là trụ sở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tại Cầu Giấy, Hà Nội hiện vẫn chưa khởi công được do đang trình Thủ tướng Chính phủ về phương án tổ chức thực hiện dự án, lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng công trình.
- Về trang thiết bị và phương tiện làm việc: Riêng phương tiện ô tô chuyên dùng mới chỉ đảm bảo được 40% số đơn vị cấp huyện, máy vi tính xách tay mới chỉ trang bị cho lãnh đạo, Kiểm sát viên cao cấp, Điều tra viên cao cấp, Kiểm tra viên cao cấp, Chuyên viên cao cấp, đối với VKSND cấp tỉnh mới chỉ trang bị đến cấp phòng để dùng chung. Do nguồn ngân sách cấp còn eo hẹp nên việc đầu tư trang thiết bị chưa thể đáp ứng được nhu cầu cho thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là các trang thiết bị hỗ trợ trực tiếp cho Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên khi thực thi nhiệm vụ như máy ảnh, máy ghi âm, máy quay, điện thoại cầm tay, máy tính xách tay, … chưa thực sự đáp ứng cả về số lượng và chất lượng.
- Về chế độ, chính sách: Cùng với những khó khăn chung, chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ngành Kiểm sát nhân dân đã đề nghị nhưng chưa được giải quyết cũng ảnh hướng tới thực hiện nhiệm vụ được giao.
III. GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH, CƠ SỞ VẬT CHẤT, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG TIỆN LÀM VIỆC CỦA NGÀNH
Năm 2015, ngành Kiểm sát nhân dân tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm Chương trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ Chính trị, triển khai thi hành Luật tổ chức VKSND sửa đổi và tổ chức các hoạt động Kỷ niệm 55 năm thành lập ngành và Đại hội thi đua yêu nước của Ngành. Nguồn kinh phí được giao năm 2015 toàn Ngành là 3.333,5 tỷ đồng(trong đó vốn đầu tư xây dựng cơ bản là 576,5 tỷ đồng) tăng 11,23% so với năm trước, chủ yếu là tăng về vốn đầu tư.
Để phục vụ tốt hơn nhiệm vụ chính trị của Ngành, công tác Kế hoạch - Tài chính cần tập trung thực hiện tốt các giải pháp sau:
Thứ nhất, tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2015. Tiếp tục tham mưu cho lãnh đạo Viện chỉ đạo toàn Ngành điều hành ngân sách linh hoạt, phục vụ kịp thời công tác chuyên môn nghiệp vụ và những nhiệm vụ phát sinh, đảm bảo đủ kinh phí để ngành Kiểm sát hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; ủy quyền cho chủ tài khoản đơn vị dự toán cấp II phân bổ, điều chỉnh dự toán cho các đơn vị dự cấp III trực thuộc về một số nội dung kinh phí không thực hiện chế độ tự chủ (kinh phí nghiệp vụ đặc thù); tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ, công tác kiểm tra, kịp thời nắm bắt, giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc của toàn Ngành nhằm đảm bảo quản lý và sử dụng kinh phí được giao tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng nhiệm vụ chính trị của Ngành.
Thứ hai, tiếp tục trình Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, các cơ quan có thẩm quyền các Đề án nhằm tăng cường hơn nữa nguồn kinh phí: Đề án "Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho ngành Kiểm sát nhân dân"; Đề án "Đầu tư trang thiết bị, phương tiện làm việc cho ngành KSND nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn 2015-2020"; Đề án "Tăng cường nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành KSND đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp"; Đề án: "Đổi mới tổ chức và hoạt động công tác Kế hoạch - Tài chính ngành KSND đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp"; Kế hoạch đầu tư công trung hạnvàcác chế độ, chính sách vềcải cách chế độ tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức.
Thứ ba, phát huy tối đa mọi nguồn lực hiện có, đồng thời chủ động, tích cực tham mưu, đề xuất với Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm việc với các Bộ, ngành, tạo cơ chế nhằm tăng cường nguồn kinh phí, kịp thời giải quyết những khó khăn của ngành, huy động mọi nguồn lực đáp ứng về vốn đầu tư xây dựng trụ sở Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và các Viện kiểm sát cấp huyện đang phải đi thuê trụ sở và Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.
Thứ tư, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các chủ tài khoản, chủ đầu tư trong quản lý, điều hành ngân sách; tăng cường trách nhiệm tham mưu, giúp việc của đội ngũ cán bộ làm công tác hậu cần tài chính trong công tác xây dựng dự toán ngân sách hàng năm cũng như việc quản lý, điều hành thu chi ngân sách nhà nước, việc chấp hành chế độ, chính sách về tài chính, đầu tư xây dựng, mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản, trang phục ...
Thứ năm, tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính về điều hành chi ngân sách nhà nước năm 2015, xây dựng chương trình và tăng cường các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý và sử dụng ngân sách nhằm triệt để tiết kiệm, tăng thêm thu nhập góp phần cải thiện đời sống cho cán bộ, công chức trong Ngành.
Thứ sáu, tiếp tục củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội công chức làm công tác tài chính trong Ngành, đặc biệt là đội ngũ kế toán cấp huyện, cán bộ làm công tác về đầu tư xây dựng, từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động công tác Kế hoạch - Tài chính cho phù hợp và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới./.

Tác giả bài viết: Vụ tổ chức, cán bộ VKSND tối cao

Nguồn tin: VKSND Tối Cao

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 25

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 23


Hôm nayHôm nay : 5017

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 40030

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10169086


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo