22:31 ICT Thứ tư, 12/08/2020

Tin tức



VKSND Tối cao
Văn bản quy phạm pháp luật
Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Đời sống & Pháp Luật
Bảo vệ pháp luật

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Học tập làm theo lời Bác

CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Sự quan tâm, chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với ngành Kiểm sát nhân dân

Thứ năm - 16/07/2020 08:29

Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, chính quyền về tay Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một Nhà nước thuộc về Nhân dân, lợi ích phải vì dân; một Nhà nước dân chủ, trong đó Nhân dân là chủ nhân của đất nước; một Nhà nước vận hành và quản lý bằng pháp luật... Đây chính là cơ sở cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền và về công tác tư pháp.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản Tuyên ngôn độc lập là văn bản pháp lý đầu tiên vô cùng quan trọng, đặt nền móng để bảo vệ nền độc lập, củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng các thiết chế, trong đó có các cơ quan tư pháp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Giữa bộn bề công việc, ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá I đã thông qua Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Đối với cơ quan tư pháp gồm Tòa án và Công tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi Tòa án, Công tố là cơ quan trọng tâm của ngành tư pháp, tư pháp là một hệ thống trọng yếu của chính quyền. Khi mới thành lập, các Tòa án, Công tố gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngành tư pháp đã nhanh chóng thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử, trừng trị nghiêm khắc các phần tử phản động, dập tắt âm mưu nổi loạn, cướp chính quyền của địch, góp phần cùng các lực lượng khác bảo vệ Ðảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ Nhân dân.
Ban đầu, do chịu sự ảnh hưởng về hệ thống tư pháp của Pháp, nên Công tố còn nằm trong Tòa án... nhưng năm 1950, Bác Hồ đã chỉ đạo tiến hành cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng với những mục đích rất rõ ràng là bộ máy tư pháp cần được “dân chủ hóa”, “để công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn”, “thủ tục tố tụng cần được hợp lý và giản dị hơn”. Với ý nghĩa đó, ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tư pháp, xây dựng nên những nguyên tắc tiến bộ đầu tiên cho nền tư pháp non trẻ của nước ta. Sắc lệnh số 85, đã có sự cải cách đáng kể về hoạt động tư pháp. Theo đó, các nội dung chính của cải cách tư pháp bao gồm: Dân chủ hóa bộ máy tư pháp (bao gồm hình thành chế độ Hội thẩm nhân dân, Hội đồng hòa giải, chế độ trang phục); cải cách về thẩm quyền để công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn; cải cách về tố tụng để thủ tục được hợp lý và giản dị hơn; vị trí, vai trò của Viện Công tố, thể hiện xu hướng gắn bó với Nhân dân và độc lập với Tòa án. Đến năm 1959, pháp luật đã quy định Viện Công tố được tổ chức với tư cách là một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập, thuộc Chính phủ, tách khỏi Bộ Tư pháp, có tổ chức từ Trung ương đến địa phương, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, tổ chức và hoạt động, thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

Điều 105, Hiến pháp năm 1959 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định”. Lần đầu tiên, chế định về cơ quan Viện kiểm sát nhân dân xuất hiện trong Hiến pháp của Việt Nam. Căn cứ vào Hiến pháp năm 1959, ngày 15/7/1960, Quốc hội khóa II nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân gồm 6 chương, 25 điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân. Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 20-LCT công bố Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đánh dấu bước ngoặt lớn chuyển từ Viện công tố trở thành Viện kiểm sát nhân dân.

 
Ngày 2/8/1960, được sự phân công của Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội tới thăm Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tại đây, đồng chí đã chỉ đạo: “Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân chính là để đảm bảo nhiệm vụ chuyên chính dân chủ nhân dân, thực hiện dân chủ rộng rãi và phát triển nền dân chủ ấy… Trước mắt, hiện nay là mở rộng dân chủ với Nhân dân, tăng cường chuyên chính với kẻ thù của Nhân dân. Muốn vậy phải tôn trọng pháp chế dân chủ, thực chất là pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Ngày 18/4/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 12/LCN công bố Pháp lệnh Kiểm sát viên. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên… Pháp lệnh cũng quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và Ủy ban Kiểm sát.Ngày 01/02/1963, được sự quan tâm của Bác Hồ, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về công tác kiểm sát. Nghị quyết khẳng định vai trò quan trọng của ngành Kiểm sát trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, quy định một số vấn đề cụ thể về tổ chức và hoạt động của Ngành và quan hệ giữa các ngành Kiểm sát, Công an, Tòa án, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành Kiểm sát nhằm giúp cho Ngành thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.Được sự phân công của Bác Hồ, tháng 3/1967, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đến dự Hội nghị tổng kết ngành Kiểm sát. Đồng chí phát biểu chỉ đạo: “Ngành Kiểm sát là một trong những công cụ của Nhà nước dân chủ nhân dân, có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, tăng cường chuyên chính đối với bọn phản cách mạng, tăng cường kỷ luật xã hội trong quần chúng nhân dân… Cần chú trọng trước hết kiểm tra việc tuân theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước. Bởi vì, sự vi phạm của của một số công dân nào đó đối với pháp luật có lẽ sẽ không tai hại bằng những sự lạm quyền của các cơ quan chính quyền… Nếu những người này làm sai pháp luật thì chẳng những vi phạm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, mà còn làm trái chủ trương, chính sách là sinh mạng của Đảng, là linh hồn của pháp luật”.Tháng 7/1967, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt, đồng chí Trường Chinh, thay mặt Bác Hồ phát biểu với ngành Kiểm sát: “Không có cơ quan Nhà nước nào có thể thay thế ngành Kiểm sát nhân dân để sử dụng quyền công tố. Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm làm tốt”.Như vậy, Đảng, Bác Hồ rất quan tâm đến hoạt động của ngành Kiểm sát và luôn có những chỉ đạo, cải cách sao cho chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc xây dựng hệ thống các cơ quan tư pháp là cơ sở để xã hội phát triển. Người từng nói: Tư pháp có tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt người dân mới có được hệ thống pháp luật bảo vệ, có được ánh sáng của Đảng dìu dắt. Song song với đó là phải kiên quyết đấu tranh xử lý tội phạm, đấu tranh chống những hành vi xâm hại đến danh dự, uy tín của Đảng, của Nhà nước.

 
Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng xây dựng bộ máy các cơ quan tư pháp và xác định đây là cơ quan trọng yếu của chính quyền. Ðối với thiết chế Viện Công tố, sau này là Viện kiểm sát nhân dân, Bác đã có chỉ đạo rất sâu sát và toàn diện từ việc hoàn thiện mô hình tổ chức, cử nhân sự lãnh đạo cho Ngành, điển hình trong những ngày đầu thành lập ngành Kiểm sát, Bác đã cử đồng chí Hoàng Quốc Việt, nguyên Thường vụ Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam sang đảm nhận nhiệm vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đồng chí Hoàng Quốc Việt không chỉ là người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng của Ðảng mà còn là người có rất nhiều kinh nghiệm trong công tác vận động quần chúng. Đồng thời, Bác Hồ đích thân giới thiệu những cán bộ cấp cao của Đảng sang đảm nhận Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đó là đồng chí Đại tá, nguyên Cục trưởng Cục Tình báo Trần Hiệu, người đã lập nhiều chiến công lớn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp; đồng chí Trần Công Tường, một chuyên gia, luật sư nổi tiếng, nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp sang làm Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Như vậy, ngay từ đầu thành lập ngành Kiểm sát, đồng chí Trần Hiệu và đồng chí Trần Công Tường là những trợ thủ đắc lực của đồng chí Viện trưởng Hoàng Quốc Việt. Ðây là sự quan tâm đặc biệt của Ðảng và Bác Hồ đối với ngành Kiểm sát nhân  dân. Ngoài ra, Bác cũng đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với cán bộ kiểm sát, thể hiện ở 10 chữ vàng mà Bác Hồ tặng cho cán bộ kiểm sát: Cán bộ kiểm sát phải “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.
 
Để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm đặc biệt của Bác đối với ngành Kiểm sát. Mỗi cán bộ, Kiểm sát viên cần luôn ghi nhớ, biết ơn và không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ, phẩm chất đạo đức, nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành trọng trách mà Ðảng và Nhân dân giao phó.

Tác giả bài viết: Trần Thị Thu tổng hợp

Nguồn tin: VKS.H.Vĩnh Thạnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 21

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 19


Hôm nayHôm nay : 5004

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 87814

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10216870


thi đua khen thưởng
Trao đỗi nghiệp vụ
Kết quả giải quyết Khiếu Nại - Tố Cáo
Chuyên đề biển đảo