05:37 ICT Chủ nhật, 26/01/2020

Tin tức



Trang thông tin điện tử Tạp chí Kiểm Sát
Đại Học KSHN
Bảo vệ pháp luật
Đời sống & Pháp Luật
VKSND Tối cao

Tỉ giá ( Vietcombank )

Tháng Một 26, 2020, 4:50 am
Code Buy Transfer Sell
AUD 15,386.41 15,541.83 16,131.86
CAD 17,223.74 17,397.72 18,058.21
CHF 23,161.62 23,395.58 24,283.77
DKK - 3,348.68 3,531.88
EUR 24,960.98 25,213.11 26,533.06
GBP 29,534.14 29,832.46 30,656.90
HKD 2,906.04 2,935.39 3,028.60
INR - 321.97 340.14
JPY 202.02 204.06 214.74
KRW 18.01 18.96 21.12
KWD - 75,499.31 79,758.97
MYR - 5,595.95 5,808.39
NOK - 2,510.51 2,658.47
RUB - 369.73 418.79
SAR - 6,112.16 6,457.00
SEK - 2,373.21 2,503.05
SGD 16,755.29 16,924.54 17,427.08
THB 666.20 740.22 786.99
USD 23,075.00 23,105.00 23,245.00

Hoạt động


Trang chủ » Tin tức » Học tập làm theo lời Bác

CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Một số vấn đề lý luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giải pháp về tăng cường đoàn kết

Thứ hai - 06/01/2020 19:28

Thứ nhất, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Đại đoàn kết là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán trong tư duy, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý nghĩa chỉ đạo hoạt động thực tiễn sâu sắc. Người nhận thức sâu sắc, đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà còn là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành bại, được mất trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết là sự đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, với tinh thần: “Chúng ta phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân. Đoàn kết giữa các tầng lớp trong nhân dân với nhau. Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới” (Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 90). Như vậy, đại đoàn kết dân tộc cũng tức là tập hợp mọi người dân vào một khối thống nhất giữa ý chí và hành động trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, v.v. Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở thống nhất lợi ích quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng; nòng cốt khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của Đảng, Người chỉ rõ, cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, dân cư ở các vùng miền khác nhau. Phát huy mặt tương đồng, hóa giải điểm khác biệt.

Từ đó, Người khẳng định, đại đoàn kết dân tộc phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Bởi chỉ có Đảng của giai cấp công nhân mới có mục đích tiêu biểu cho những yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân cả nước, được các tổ chức, đảng phái và toàn dân tin tưởng, ủng hộ, để có thể “đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác” (Sđd, Tập 9, tr. 244, 244, 69), đồng thời có mối liên hệ với đông đảo bè bạn ở ngoài nước. Để khối đại đoàn kết rộng rãi bảo đảm được vững chắc thì phải lấy liên minh công nông làm nền tảng, vì: “Muốn đoàn kết rộng rãi thì cái gốc phải vững, tức là công nông liên minh có vững chắc mới đoàn kết được các giai cấp khác” (Sđd, Tập 9, tr. 244, 244, 69). Để đoàn kết chặt chẽ, theo Người, mục đích và lập trường phải nhất trí nhưng cũng cần phải đấu tranh, đấu tranh là để tăng cường đoàn kết, khắc phục tình trạng đoàn kết xuôi chiều; tích cực phê bình và tự phê bình nhằm biểu dương mặt tốt, khắc phục những mặt chưa tốt mới giúp củng cố khối đoàn kết: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình” vì “phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết”  (Sđd, Tập 10, tr. 584).

 
 
Nguyên tắc của đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết là tin vào dân, dựa vào dân vì lợi ích của dân để đoàn kết toàn dân, phát động các phong trào thi đua yêu nước trong lao động, học tập, sản xuất và chiến đấu. Thứ hai, đoàn kết lâu dài, rộng rãi, chặt chẽ, tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo. Thứ ba, đoàn kết trên cơ sở hiệp thương, dân chủ, chân thành, thẳng thắn, thân ái; đoàn kết gắn với đấu tranh, tự phê bình và phê bình. Thứ tư, đoàn kết trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, trân trọng “phần thiện”, dù nhỏ nhất ở mỗi con người để tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng.

 Theo Bác, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có phong cách lãnh đạo: “Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 50).

Với quan điểm “cán bộ là gốc của mọi công việc”, nên trong vấn đề đại đoàn kết toàn dân, Bác luôn đòi hỏi: “Cán bộ, đảng viên và đoàn viên phải đoàn kết chặt chẽ; phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích chung của nhân dân lên trên lợi ích riêng của mình; phải làm gương mẫu trong đoàn kết dân tộc” (Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 96). Thế nhưng hiện nay, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức có quyền, không thực hiện đúng lời Bác, dẫn tới sa sút phẩm chất, sống xa dân, thiếu trách nhiệm với dân, tác phong quan liêu, gia trưởng, độc đoán, thậm chí trù dập, ức hiếp quần chúng. Vì vậy, chúng ta càng thấm thía biết bao tư tưởng đại đoàn kết của Người. Càng trong gian khó, càng cần phải đoàn kết, thống nhất để vượt qua, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.

Đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh, tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn, chiến thắng giặc ngoại xâm và giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới. Do vậy, cần tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo nên sức mạnh vô địch trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Thứ hai, Thực tiễn khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về đại đoàn kết dân tộc, về công tác dân tộc, về tôn giáo, về người Việt Nam ở nước ngoài, từng bước được thể chế hóa thành luật, pháp lệnh, chính sách và ngày càng thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Nhiều cấp ủy đảng đã quan tâm hơn đến sự nghiệp đại đoàn kết, đến công tác dân vận và công tác mặt trận, củng cố tổ chức và tăng cường cán bộ, phương tiện và điều kiện cho công tác mặt trận. Chính quyền ở nhiều cấp, nhiều địa phương đã thật sự có chuyển biến trong nhận thức và hành động về quan hệ với nhân dân. Nhiều dự án về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của Nhà nước được ban hành nhằm chăm lo đời sống cho nhân dân đã thực hiện có kết quả. Quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội được thể chế hóa, đã từng bước được phát huy.

Cùng với những tiến bộ và chuyển biến nêu trên, nhiều vấn đề mới đã và đang nảy sinh trong quá trình đổi mới, đó là xã hội, giai cấp, tầng lớp, nhóm dân cư đang trong quá trình phân hóa. Xuất hiện sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân lao động ở các khu công nghiệp với những người lao động có chuyên môn, tay nghề trong các lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, giữa người đương chức và người về hưu… Sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng đã và đang ảnh hưởng lớn đến đại đoàn kết dân tộc. Những đặc điểm nêu trên đã tác động mạnh mẽ đến khối đại đoàn kết.

Để đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thật sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần làm cho cả hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên, trước hết là các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc đề xướng. Phải nắm vững những quan điểm cơ bản và cũng là những định hướng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Đó là lợi ích cơ bản của nhân dân, của dân tộc ta ngày nay là độc lập, tự do và cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong chủ nghĩa xã hội. Lợi ích đó thể hiện cụ thể hằng ngày trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Củng cố tăng cường đoàn kết hiện nay không thể chung chung mà phải gắn chặt với việc bảo đảm các lợi ích đó. Một trong những động lực thúc đẩy nhân dân tăng cường đoàn kết trong tình hình hiện nay là quyền làm chủ đất nước của nhân dân cần được tôn trọng. Pháp luật phải bảo đảm để nhân dân thật sự là người chủ, thật sự làm chủ như Hiến pháp đã quy định.

Trong giai đoạn hiện nay, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có tác dụng trực tiếp và quyết định đến kết quả xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội, để các chủ trương, chính sách sát cuộc sống, đáp ứng lợi ích của nhân dân.

Kiên trì thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung, cùng nhau hợp sức xây dựng cho được một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định, phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.

Thứ ba, Một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể của Chi bộ

Từ thực tiễn khối đại đoàn kết nêu trên, để tăng cường củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay, cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy chi bộ, người đứng đầu và tất cả công chức, người lao động tại đơn vị trong lãnh đạo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Người đứng đầu thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với người dân, lắng nghe ý kiến đóng góp của người dân. Cần thực hiện triệt để Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương”. Cán bộ, đảng viên phải xung phong, gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đoàn kết và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh để nhân dân học và làm theo.

Thứ hai, nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên.

Thứ ba, Chi bộ, công đoàn, đoàn thanh niên đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở.

Thứ tư, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng chi bộ, đơn vị trong sạch, vững mạnh và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Tấn Cường

Nguồn tin: VKS. H. Thới Lai

Tổng số điểm của bài viết là: 8 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

QUYẾT ĐỊNH SỐ 63/QĐ-VKS-TTr

Quyết định ban hành quy định về chấp hành kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ tại VKSND Tp Cần Thơ

/vkscantho/uploads/quyet-dinh-ban-hanh-quy-dinh-ve-viec-chap-hanh-ky-cuong-luat-cong-vu-tai-vks-tp-ctpdf.pdf
     
 
 

Tổng hợp


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 8


Hôm nayHôm nay : 1103

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 148152

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9005437


thi đua khen thưởng
Chuyên đề biển đảo
Trao đỗi nghiệp vụ
Số hóa hồ sơ tài liệu
Lịch xét xử